Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp hcm

Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP HCM.

Chuyên ngành

Kế toán

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

109
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. PHẦN MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Những đóng góp của luận văn

1.6. Kết cấu của luận văn

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN

2.1. Các nghiên cứu quốc tế

2.2. Các nghiên cứu trong nước

3. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

4. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. Phát triển giả thuyết nghiên cứu

4.1.1. Tách vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc

4.1.2. Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành

4.1.3. Thành viên Hội đồng quản trị độc lập

4.1.4. Quy mô Hội đồng quản trị

4.1.5. Tính độc lập của Ban kiểm soát

4.1.6. Chuyên môn của Ban kiểm soát

4.1.7. Sở hữu cổ phần của các thành viên

4.2. Thiết kế nghiên cứu

4.2.1. Dữ liệu nghiên cứu

4.2.2. Mô hình nghiên cứu

4.3. Phương pháp nghiên cứu

4.3.1. Phân tích thống kê mô tả

4.3.2. Phân tích tương quan

4.3.3. Phân tích hồi quy

4.3.3.1. Ước lượng mô hình
4.3.3.2. Phương pháp kiểm định các hệ số hồi quy và sự phù hợp của mô hình

5. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

5.1. Kết quả hồi quy mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận

5.2. Kết quả phân tích mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận

5.2.1. Phân tích thống kê mô tả

5.2.2. Phân tích tương quan

5.2.3. Phân tích hồi quy

6. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

6.1. Hạn chế bài nghiên cứu và định hướng nghiên cứu trong tương lai

6.1.1. Hạn chế bài nghiên cứu

6.1.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối quan hệ giữa quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận

Nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công tyđiều chỉnh lợi nhuận tại các công ty niêm yết là một chủ đề quan trọng trong lĩnh vực tài chính và kế toán. Các công ty thường điều chỉnh lợi nhuận để thu hút nhà đầu tư và tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Tuy nhiên, hành vi này có thể dẫn đến những rủi ro lớn cho các nhà đầu tư và thị trường. Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp các nhà quản lý và nhà đầu tư có cái nhìn sâu sắc hơn về cách thức hoạt động của các công ty niêm yết.

1.1. Định nghĩa quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận

Quản trị công ty là hệ thống các quy tắc, quy trình và thực tiễn mà các công ty áp dụng để quản lý và điều hành. Điều chỉnh lợi nhuận là hành vi mà các công ty thực hiện để thay đổi báo cáo tài chính nhằm tạo ra hình ảnh tích cực hơn về hiệu quả hoạt động của mình. Việc hiểu rõ hai khái niệm này là rất cần thiết để phân tích mối quan hệ giữa chúng.

1.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu này

Nghiên cứu này không chỉ giúp làm rõ mối quan hệ giữa quản trị công tyđiều chỉnh lợi nhuận, mà còn cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà đầu tư và các bên liên quan. Thông qua việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu sẽ chỉ ra cách thức mà quản trị công ty có thể giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận, từ đó nâng cao tính minh bạch và độ tin cậy của báo cáo tài chính.

II. Vấn đề và thách thức trong quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận

Mặc dù quản trị công ty có thể giúp giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Các công ty niêm yết thường phải đối mặt với áp lực từ các cổ đông và thị trường để báo cáo lợi nhuận cao hơn. Điều này có thể dẫn đến việc thực hiện các thủ thuật kế toán không minh bạch. Nghiên cứu chỉ ra rằng sự thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính có thể gây ra sự mất lòng tin từ phía nhà đầu tư.

2.1. Áp lực từ cổ đông và thị trường

Cổ đông thường mong đợi lợi nhuận cao và ổn định. Áp lực này có thể dẫn đến việc các công ty thực hiện các hành vi điều chỉnh lợi nhuận để đáp ứng kỳ vọng. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tính minh bạch mà còn có thể dẫn đến những quyết định sai lầm trong quản lý.

2.2. Thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính

Thiếu minh bạch trong báo cáo tài chính có thể dẫn đến sự nghi ngờ từ phía nhà đầu tư. Các công ty cần phải đảm bảo rằng thông tin tài chính được công bố là chính xác và đáng tin cậy. Việc này không chỉ giúp bảo vệ lợi ích của nhà đầu tư mà còn nâng cao uy tín của công ty trên thị trường.

III. Phương pháp nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận

Để nghiên cứu mối quan hệ này, các phương pháp phân tích định lượng và định tính sẽ được áp dụng. Việc thu thập dữ liệu từ các công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM sẽ giúp xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa các biến.

3.1. Thu thập dữ liệu từ các công ty niêm yết

Dữ liệu sẽ được thu thập từ báo cáo tài chính của các công ty niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM trong giai đoạn từ 2009 đến 2013. Việc này sẽ giúp tạo ra một cơ sở dữ liệu phong phú cho việc phân tích.

3.2. Phân tích hồi quy để kiểm tra mối quan hệ

Phân tích hồi quy sẽ được sử dụng để xác định mối quan hệ giữa quản trị công tyđiều chỉnh lợi nhuận. Các biến độc lập sẽ bao gồm các yếu tố như tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập, quy mô Hội đồng quản trị và các yếu tố khác có liên quan.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ chỉ ra mối quan hệ giữa quản trị công tyđiều chỉnh lợi nhuận. Các công ty có quản trị tốt sẽ có xu hướng điều chỉnh lợi nhuận ít hơn. Điều này không chỉ giúp nâng cao tính minh bạch mà còn tạo ra sự tin tưởng từ phía nhà đầu tư. Các kết quả này sẽ có thể được áp dụng để cải thiện quản trị công ty tại các công ty niêm yết.

4.1. Phân tích kết quả hồi quy

Kết quả hồi quy sẽ cho thấy mối quan hệ giữa các yếu tố quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các yếu tố như tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập và quy mô Hội đồng quản trị sẽ được phân tích để xác định ảnh hưởng của chúng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

4.2. Ứng dụng kết quả vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện quản trị công ty tại các công ty niêm yết. Việc tăng cường tính minh bạch và giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận sẽ giúp nâng cao uy tín và giá trị của công ty trên thị trường.

V. Kết luận và định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu này đã chỉ ra mối quan hệ quan trọng giữa quản trị công tyđiều chỉnh lợi nhuận. Các công ty cần phải chú trọng đến việc cải thiện quản trị để giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Định hướng nghiên cứu trong tương lai có thể tập trung vào việc phát triển các mô hình quản trị công ty hiệu quả hơn.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã xác nhận rằng quản trị công ty tốt có thể giúp giảm thiểu hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Các yếu tố như tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập và quy mô Hội đồng quản trị có ảnh hưởng đáng kể đến hành vi này.

5.2. Định hướng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu trong tương lai có thể mở rộng ra các lĩnh vực khác như ảnh hưởng của văn hóa doanh nghiệp đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Việc này sẽ giúp tạo ra một cái nhìn toàn diện hơn về mối quan hệ giữa quản trị công ty và điều chỉnh lợi nhuận.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ ueh nghiên cứu mối quan hệ giữa quản trị công ty và hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các công ty niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán tp hcm

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1.1 Các nghiên cứu quốc tế Nghiên cứu “Boad monitoring and Earnings managerment: Do outside directors influence abnormal accruals?” của Peasnell & các cộng sự (2000) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 1271 quan sát các công ty Anh giai đoạn 1993 – 1995. Nghiên cứu cho thấy sự gia tăng tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và sự hiện diện của một Ủy ban kiểm toán sẽ hỗ trợ vai trò giám sát của Hội đồng quản trị. Nghiên cứu cũng tìm thấy các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD càng tăng thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Tuy nhiên, nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Corporate governance and Earnings managerment” của Chtourou & các cộng sự (2001) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều đỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 3947 công ty Mỹ trên Compustat năm 1996. Kết quả cho thấy rằng tỷ lệ thành viên Ủy ban kiểm toán là thành viên độc lập không điều hành và không phải là quản lý của các công ty khác cũng như mức bồi thường bằng quyền chọn mua cổ phiếu và chuyên môn của Ủy ban kiểm toán thì ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu cũng cho thấy tăng tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành và tách vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị và Tổng giám đốc thì không ảnh hưởng đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Nghiên cứu “Earnings managerment and Corporate governance: The roles of the board and the audit commmitee” của Xie & các cộng sự (2003) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 282 quan sát các công ty Mỹ trong năm 1992, 1994 và 1996. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng một quy mô Hội đồng quản trị lớn, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 một Ủy ban kiểm toán có chuyên môn về tài chính và tăng tần số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán sẽ làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu không có đủ bằng chứng để kết luận tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị và tỷ lệ các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài có liên quan tới hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Board composition and earnings management in Canada” Park & Shin (2004) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 539 quan sát các công ty Canada giai đoạn 1991-1997.

Thứ nhất, nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của thành viên Hội đồng quản trị đến từ các trung gian tài chính và sự hiện diện của cổ đông là tổ chức thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Thứ hai, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận, kết quả này trái ngược với quan điểm cho rằng tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài sẽ giúp Hội đồng quản trị tăng tính độc lập, giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông nhỏ và cổ đông lớn. Lý giải cho kết quả này, Park & Shin lập luận rằng các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài ở các công ty Canada thiếu sự tinh tế trong lĩnh vực tài chính hay thiếu sự truy cập thông tin để phát hiện hành vi điều chỉnh lợi nhuận, thêm vào đó có thể các thành viên bên ngoài thiếu quan tâm đến hoạt động công ty vì họ thiếu quyền sở hữu, hoặc là do họ thiếu sự độc lập thực sự và thiếu quyền lực để thực hiện việc giám sát. Nghiên cứu “Board, audit committee, culture and earnings management: Malaysian evidence” của Rahman & Ali (2006) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều đỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 97 công ty niêm yết ở Malaysia giai đoạn 2002-2003.

Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng một Hội đồng quản trị với quy mô nhỏ sẽ phát huy vai trò giám sát hơn là một Hội đồng quản trị lớn. Kết quả này trái ngược với kết quả nghiên cứu của Xie & các cộng sự (2003). Nghiên cứu không có đủ bằng chứng để kết luận, việc tách vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành cũng tỷ lệ thành viên Ủy ban kiểm toán độc lập không điều hành có liên quan đến hành vi điều chỉnh lợi nhuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nghiên cứu “Earnings Management And Corporate Governance In The UK: The Role Of The Board Of Directors And Audit Committee” của Lei (2006) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 344 công ty niêm yết ở Anh giai đoạn 2000-2002.

Nghiên cứu cho thấy việc tách vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài sẽ tác động làm giảm hành vi điều chỉnh tăng lợi nhuận. Còn việc tăng tần số cuộc họp của Ủy ban kiểm toán sẽ tác động làm giảm hành vi điều chỉnh giảm lợi nhuận. Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên độc lập của Ủy ban kiểm toán cũng như chuyên môn về tài chính – kế toán – kiểm toán của các thành viên Ủy ban kiểm toán với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Good Corporate Governance And Earnings Management Practices: An Indonesian Cases” của Muhardi (2010) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 128 công ty Indonesia giai đoạn 2005-2007.

Kết quả nghiên cứu cho thấy sự tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc và tỷ lệ sở hữu của cổ đông kiểm soát lớn hơn 51% thì tác động làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu cho thấy không có mối quan hệ giữa tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành và tỷ lệ thành viên độc lập trong Ủy ban kiểm toán cũng như sự hiện diện của chuyên gia phân tích tài chính – sử dụng nợ với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Corporate Governance Characteristics and Earnings Management: Empirical Evidence from Chinese Listed Firms” của Gulzar & Wang (2011) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Jones (1991) với một mẫu gồm 1009 công ty Trung quốc trong giai đoạn 2002-2006. Kết quả nghiên cứu cho thầy rằng sự tách biệt vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, tăng tỷ lệ thành viên nữ trong Hội đồng quản trị và tăng tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị và tập trung sở hữu thì làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Nghiên cứu không tìm thấy mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị, tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị độc lập với hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Nghiên cứu “Earnings Management and Board Characteristics in Thai Listed Companies” của Sukeecheep & các cộng sự (2013) đã sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) – Modified Jones với một mẫu gồm 550 công ty niêm yết ở Thái Lan trong giai đoạn 2006-2010. Thứ nhất, nghiên cứu tìm ra rằng tăng tỷ lệ thành viên Hội đồng quản trị tham gia Hội đồng quản trị của các công ty khác thì làm làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận và các công ty có lưu chuyển tiền thuần từ HĐKD càng tăng thì càng làm giảm hành vi điều chỉnh lợi nhuận. Thứ hai, nghiên cứu tìm thấy thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành thì làm tăng hành vi điều chỉnh lợi nhuận.

Kết quả này phù hợp với kết quả nghiên cứu của Park & Shin (2004), Sukeecheep & các cộng sự giải thích cho kết quả này là do thành viên Hội đồng quản trị độc lập tại các công ty niêm yết của Thái Lan thiếu sự độc lập thật sự và thiếu quyền lực để điều tra hành vi sai trái của Ban quản lý. Cuối cùng nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa sự tách biệt vai trò của Chủ tịch Hội đồng quản trị với Tổng giám đốc, quy mô Hội đồng quản trị và tần số cuộc họp của Hội đồng quản trị với hành vi điều chỉnh lợi nhuận.2 Các nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết ở Sở giao dịch Chứng khoán TP.HCM” của Phạm Thị Bích Vân (2012) sử dụng mô hình nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của Dechow & các cộng sự (1995) - Modified Jones với một mẫu nghiên cứu gồm 54 doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán TP. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình Modified Jones không hiệu quả trong việc nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp niêm yết trên HOSE. Và tác giả Phạm Thị Bích đề nghị một mô hình khác để nhận diện hành vi điều chỉnh lợi nhuận cho các doanh nghiệp Việt Nam.

Tuy nhiên, theo tác giả trong nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Bích Vân thì tác giả Phạm Thị Bích Vân sử dụng mô hình của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Dechow & các cộng sự (1995) nhưng lại tiếp cận dựa trên khoản doanh thu và nợ phải thu thay vì khoản thay đổi trong doanh thu và khoản thay đổi trong nợ phải thu như Dechow & các cộng sự (1995). Nghiên cứu “Vận dụng mô hình của DeAnglelo và Friedlan để nhận dạng hành động điểu chỉnh lợi nhuận của nhà quản trị” của Nguyễn Thị Minh Trang (2012) đã sử dụng mô hình điều chỉnh lợi nhuận của DeAngelo (1986) và Friedlan (1994) nghiên cứu với mẫu là 20 doanh nghiệp thuộc 4 loại hình doanh nghiệp là doanh nghiệp nhà nước, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn. Kết quả nghiên cứu cho thấy các công ty cổ phần có xu hướng điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Các loại hình doanh nghiệp còn lại có xu hướng điều chỉnh giảm lợi nhuận nhằm tiết kiệm chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ