Luận văn thạc sĩ về mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép

Luận văn thạc sĩ phân tích nghiên cứu sử dụng mối nối ống bơm vữa mác cao cho dầm bê tông cốt thép thường, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Chuyên ngành

Xây Dựng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2019

55
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CÁM ƠN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về sử dụng mối nối ống bơm vữa Splice sleeve

1.2. Tình hình nghiên cứu trong nước mối nối ống bơm vữa Splice sleeve

1.3. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi đề tài nghiên cứu

1.3.1. Mục tiêu nghiên cứu

1.3.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.3. Ý nghĩa khoa học của đề tài

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CÁC LOẠI MỐI NỐI

2.1. Giới thiệu chung

2.2. Các loại mối nối cốt thép thường

3. CHƯƠNG 3: NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ THÍ NGHIỆM

3.1. Giới thiệu chung

3.2. Dầm thí nghiệm và vật liệu

3.2.1. Dầm thí nghiệm

3.2.2. Các loại vật liệu

3.2.3. Chọn cấp phối vữa cao rót

3.3. Thi công mối nối ren và mối nối ống nối vữa cường độ cao

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

4.1. Thí nghiệm khả năng chịu lực của thanh đối chứng

4.2. Mối nối thanh cốt thép sử dụng ống ren

4.3. Mối nối thanh cốt thép sử dụng ống nối bơm vữa cường độ cao

4.4. Kết quả thí nghiệm mẫu khối vuông

4.5. Kết quả thí nghiệm mẫu dầm về mối quan hệ lực và biến dạng

4.6. Kết quả thí nghiệm với mô hình vết nứt

4.7. Cơ chế phá hủy của dầm

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép

Nghiên cứu mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép là một lĩnh vực quan trọng trong ngành xây dựng. Mối nối này không chỉ giúp tăng cường khả năng chịu lực của dầm mà còn giảm thiểu thời gian thi công. Việc áp dụng công nghệ này đã được nhiều quốc gia phát triển và ứng dụng thành công. Tại Việt Nam, việc nghiên cứu và ứng dụng mối nối ống bơm vữa đang ngày càng trở nên cần thiết để nâng cao chất lượng công trình.

1.1. Lịch sử phát triển mối nối ống bơm vữa

Mối nối ống bơm vữa Splice sleeve được phát minh vào cuối những năm 1960 và đã nhanh chóng trở thành một giải pháp phổ biến trong xây dựng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mối nối này có khả năng chịu lực tốt và dễ dàng thi công.

1.2. Tầm quan trọng của mối nối trong kết cấu bê tông cốt thép

Mối nối đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo tính toàn vẹn của kết cấu bê tông cốt thép. Việc sử dụng mối nối ống bơm vữa giúp cải thiện khả năng chịu lực và độ bền của dầm, đồng thời giảm thiểu rủi ro trong quá trình thi công.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu mối nối ống bơm vữa

Mặc dù mối nối ống bơm vữa mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại một số thách thức trong việc áp dụng công nghệ này. Các vấn đề như chất lượng vật liệu, tay nghề công nhân và quy trình thi công đều ảnh hưởng đến hiệu quả của mối nối. Cần có những nghiên cứu sâu hơn để giải quyết các vấn đề này.

2.1. Chất lượng vật liệu và ảnh hưởng đến mối nối

Chất lượng của vữa và ống nối là yếu tố quyết định đến khả năng chịu lực của mối nối. Việc sử dụng vật liệu không đạt tiêu chuẩn có thể dẫn đến sự cố trong kết cấu.

2.2. Tay nghề công nhân và quy trình thi công

Tay nghề của công nhân là một yếu tố quan trọng trong việc thi công mối nối. Quy trình thi công cần được chuẩn hóa để đảm bảo chất lượng và hiệu quả.

III. Phương pháp nghiên cứu mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép

Nghiên cứu này sử dụng các phương pháp thực nghiệm để đánh giá khả năng chịu lực của các loại mối nối khác nhau. Các mẫu dầm được chế tạo và thử nghiệm để so sánh hiệu quả của mối nối ống bơm vữa với các phương pháp nối khác.

3.1. Thiết kế thí nghiệm và chế tạo mẫu dầm

Mẫu dầm được thiết kế với kích thước tiêu chuẩn và sử dụng các loại mối nối khác nhau để tiến hành thí nghiệm. Việc chế tạo mẫu dầm cần tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật để đảm bảo tính chính xác.

3.2. Phân tích kết quả thí nghiệm

Kết quả thí nghiệm sẽ được phân tích để đánh giá khả năng chịu lực của các loại mối nối. Các thông số như ứng suất, biến dạng và khả năng chịu tải sẽ được ghi nhận và so sánh.

IV. Ứng dụng thực tiễn của mối nối ống bơm vữa trong xây dựng

Mối nối ống bơm vữa đã được áp dụng trong nhiều công trình xây dựng lớn tại Việt Nam. Việc sử dụng công nghệ này không chỉ giúp tiết kiệm thời gian thi công mà còn nâng cao chất lượng công trình.

4.1. Các công trình tiêu biểu sử dụng mối nối ống bơm vữa

Nhiều công trình lớn như cầu, nhà cao tầng đã áp dụng mối nối ống bơm vữa và đạt được hiệu quả cao trong việc chịu lực và độ bền.

4.2. Lợi ích kinh tế từ việc sử dụng mối nối ống bơm vữa

Việc áp dụng mối nối ống bơm vữa giúp giảm chi phí thi công và bảo trì, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng của kết cấu bê tông cốt thép.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu mối nối ống bơm vữa

Nghiên cứu mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép đã chỉ ra nhiều lợi ích và tiềm năng ứng dụng trong xây dựng. Tuy nhiên, cần tiếp tục nghiên cứu để cải thiện chất lượng và hiệu quả của mối nối này.

5.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu cho thấy mối nối ống bơm vữa có khả năng chịu lực tốt và dễ dàng thi công, phù hợp với yêu cầu của các công trình hiện đại.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để phát triển các loại mối nối mới và cải tiến quy trình thi công nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng công trình.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sử dụng mối nối ống bơm vữa mác cao cho dầm bê tông cốt thép thường

Trích đoạn nội dung tài liệu

Đặt vấn đề Ngày nay kết cấu bê tông cốt thép (BTCT) được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực xây dựng dân dụng, giao thông, thủy lợi và hạ tầng kỹ thuật gồm: nhà ở, cầu, đường, nhà xưởng công nghiệp, sân bay, thủy lợi. Tại Việt Nam, theo các thống kê các công trình xây dựng từ kết cấu bê tông cốt thép chiếm hơn 70% tổng số công trình xây dựng. Ngoài những tính năng ưu việt của loại kết cấu BTCT như: chịu lực lớn, độ bền cao, khả năng tạo hình khối dễ dàng, chống cháy tốt, chống ăn mòn, giá thành thấp. Bên cạnh đó còn có những hạn chế như: tái sử dụng thấp, thời gian thi công lâu, trọng lượng riêng nặng.

Có rất nhiều công trình nghiên cứu chi tiết về các cấu kiện BTCT như cột, dầm, sàn và được các kết quả áp dựng thực tế. Trong thi công xây dựng công trình, cốt thép đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định đến khả năng chịu lực của một cấu kiện kết cấu. Có những tiêu chuẩn bắt buộc liên quan đến việc sản xuất, vận chuyển và lắp đặt nên các thanh thép dùng để làm cốt bê tông luôn có chiều dài nhất định. Trên thực tế, chiều dài của các thanh thép được sản xuất có chiều dài nhất định, thường không dài bằng chiều dài của kết cấu công trình, vì vậy khi thi công xây dựng, người ta phải nối thép để đảm chiều dài của kết cấu.

Việc nối các thanh cốt thép có rất nhiều phương pháp như nối chồng, hàn hay nối bằng ống nối phun vữa cường độ cao [1-4] hoặc các vật liệu khác. Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm khác nhau. Nên tùy mục đích mà các phương pháp nối thép có thể áp dụng. Một trong những ưu điểm của mối nối cốt thép ống nối phun vữa cường độ cao là tạo ra cơ chế truyền lực đúng tâm và giảm mật độ cốt thép nếu phải nối chồng nhiều thanh cốt thép trong một mặt cắt.

Gần đây, Nguyễn Đình Hùng và các cộng sự [3-4] đã cải tiến ống nối cốt thép phun vữa cường độ cao từ nguyên liệu địa phương. Nên đề tài này sử dụng ống trong nghiên cứu của Nguyễn Đình Hùng và các cộng sự [3-4] và kết cấu dầm để tìm hiểu khả năng áp dụng của dạng ống nối này trong thực tế. Chính vì vậy đề tài 1 “Nghiên cứu sử dụng mối nối ống bơm vữa mác cao cho dầm bê tông cốt thép thường” muốn làm rõ một số vấn đề là các loại mối nối có ảnh hưởng như thế nào đến khả năng làm việc của dầm để so sánh và đánh giá. Tình hình nghiên cứu trên thế giới về sử dụng mối nối ống bơm vữa Splice sleeve Mối nối ống bơm vữa Splice sleeve được phát minh bởi Alfred A.

Yee vào cuối năm 1960, đầu tiên được sử dụng để nối các thanh cốt thép cột trong khách sạn 38 Ala Moana (Honolulu, Hawaii) [5]. Sau đó, bằng sáng chế của nối ống bơm vữa Splice sleeve đã được một công ty của Nhật Bản mua lại và phát triển nó sử dụng hiệu nhiều ở Nhật Bản và Bắc Mỹ, Singapore. Mối nối ống bơm vữa Splice sleeve đã được liệt kê như một công nghệ kết nối cốt thép chính trong báo cáo của Viện bê tông Mỹ năm 1983. Một số thí nghiệm nghiên cứu và phân tích lý thuyết đã được thực hiện ở Nhật Bản và Mỹ, thông qua một loạt các thử nghiệm địa chấn thực sự, mối nối ống bơm vữa Splice sleeve đã được chứng minh đủ tiêu chuẩn có thể sử dụng cho xây dựng nhà cao tầng và các công trình có kết cấu phức tạp khác.

Một số nghiên cứu về sử dụng mối nối ống bơm vữa Splice sleeve như sau: Pantelides và các cộng sự [6] nghiên cứu về Đánh giá các mối nối ống bơm vữa cho trụ cầu bê tông cốt thép đúc sẵn. Theo báo cáo đầu nối ống nối vữa Splice sleeve được xem xét cho kết nối các yếu tố chân cột, cột trong xây dựng cầu. Kết quả cho thấy mối nối này có hạn chế sử dụng đầu nối Splice sleeve này trong các cây cầu nằm ở khu vực địa chấn từ trung bình đến cao. Báo cáo này mô tả một chương trình nghiên cứu được thực hiện để đánh giá các khớp cầu bằng hai loại đầu nối Splice sleeve thực nghiệm tải gần đúng theo thực tế được sử dụng để kiểm tra từ chân đến cột mẫu.

Kết quả thí nghiệm cho thấy hiệu suất của tất cả các thử nghiệm mẫu vật là thỏa đáng so với tiêu chuẩn hiện tại. So với mẫu vật đối chứng, mối nối ống bơm vữa có giảm khả năng linh hoạt về dịch chuyển cho các mẫu vật đúc sẵn trong cả hai loại. Einea và các cộng sự [1] nghiên cứu phát triển ống nối bơm vữa. Trong đó, chiều dài ống và các vòng bố trí trong ống được thực hiện.

Trong đó, chiều dài dính 2 bám được thí nghiệm tự 5D đến 10D, với D là đường kính của thanh cốt thép. Kết quả là tìm ra được chiều dài phù hợp của ống nối khoảng 7 lần đường kính thanh cốt thép là hợp lý. Đối với các vòng thép bố trí trong ống thép sẽ làm tăng khả năng chịu nén của vữa cường độ cao bởi cơ chế chống nở hông. Do đó, khả năng truyền lực của ống nối phu vữa cường độ cao được nâng cao rõ rệt từ kết quả nghiên cứu của Einea và các cộng sự [1].

a) Ống nối LK b) ông nối NMB c) Ống nối D410 Hình 1.1: Các loại ống nối bơm vữa [5]. Từ các kết quả nghiên cứu về ống nối vữa của Einea, có rất nhiều ống nối được đăng ký bản quyền. Có thể kể đến ba loại ống nối trên thị trường gồm loại Lenton Interlock (LK), ống nối NMB (Splice sleeve NMB) và ống nối D410 như được thể hiện trong Hình 1. Dựa vào đường kính của các thanh cốt thép hay các loại thép khác nhau, ống nối có kích thước khác nhau.

Các ống nối được thiết kế sao cho có ứng suất tới hạn lớn hơn 125% ứng suất chảy của thanh cốt thép được nối trong kết cấu BTCT. Ống nối LK, phát triển bởi công ty ERICO (Mỹ), được thiết kế bằng gang dẻo (ductile iron) theo tiêu chuẩn ASTM 5364. Ống LK được thiết kế sao cho có ứng suất tới hạn lớn hơn 125% ứng suất chảy của các cốt thép theo tiêu chuẩn ASTM A7065 và ASTM A6156, Grade 60. Do đó, vật liệu để chế tạo ống LK là loại Grade 90-65-05, tương ứng là ứng suất kéo tới hạn là 620MPa (90ksi), ứng suất chảy là 448 MPa (65ksi) và có độ dãn dài tương đối tối thiểu là 5%.

Ống LK có chiều dài từ 199 mm đến 516 mm, đường kính ngoài của thép tương ứng từ 65 mm đến 114 mm. Ống LK dùng để nối thép có đường kính từ 16mm đến 57 mm. Một đầu ống nối với thanh cốt thép bằng ren. Đường kính ren nhỏ dần từ trong ra ngoài.

Chiều dài đoạn nối bằng ren từ 22mm đến 70mm phụ thuộc vào đường kính của thanh 3 thép được nối. Đầu nối ren được vặn chặt bằng tay. Đầu còn lại của ống LK nối với thanh thép thông qua vữa không co ngót từ hai ống dẫn vữa. Ống nối NMB cho kết cấu lắp ghép, phát triển bởi công ty Splice Sleeve North Amarica (Mỹ).

Sự khác biệt lớn nhất đối với ống LK là ống NMB không có liên kết bằng ren tại một đầu mà sử dụng vữa để nối ở cả hai đầu. Ống nối NMB được chia làm hai loại là UX và XN dựa vào vật liệu chế tạo. Vật liệu để chế tạo ống nối UX thỏa mãn tiêu chuẩn ASTM A5364, Grade 85-60-06, có ứng suất chảy là 413 MPa (60ksi) cho ống nối để nối cốt thép có đường kính lớn hơn 16 mm. Đối với loại cốt thép có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 16 mm, vật liệu để chế tạo ống nối thỏa mãn tiêu chuẩn ASTM A5364, Grade 60- 41-10, ứng suất chảy là 282 MPa (60ksi).

Ống nối XN cũng được chế tạo từ vật liệu thỏa mãn tiêu chuẩn ASTM A5364, Grade 85-60-06. Theo tiêu chuẩn của Nhật Bản, ống UX dùng để nối cốt thép loại SD295A/B đến SD490 (giới hạn chảy từ 295 MPa đến 490 MPa), với đường kính từ 16mm đến 41mm. Ống nối NX dùng cho cốt thép loại SD295A/B đến SD390 (giới hạn chảy từ 295 MPa đến 490 MPa) có đường kính từ 16 mm đến 22mm. Dựa vào tương quan giữa ứng suất chảy của ống nối và cốt thép, UX là thỏa mãn tiêu chuẩn Loại SA có cường độ, độ cứng và độ dẻo tương đương với cốt thép được nối.

Loại XN là thỏa mãn tiêu chuẩn Loại A có cường độ và độ ứng tương đương cốt thép được nối, nhưng độ dẻo thì hơi nhỏ hơn so với cốt thép được nối. Do nhu cầu sử dụng cốt thép thường cường độ cao, các ống nối UX có ứng suất chảy 590 MPa và 685 MPa cũng được sản xuất. Ống nối D410 cho kết cấu lắp ghép, phát triển bởi công ty Dayton Superior (Mỹ). Cơ chế làm việc của ống nối D410 là tương tự như ống nối NMB.

Vật liệu chế tạo của ống nối D419 giống với vật liệu chế tạo của ống nối LK, cụ thể là ASTM A706 và ASTM A615, Grade 60. Cả ba loại ống nối đều sử dụng các gân bên trong ống để tăng cường dính bám giữa vữa và ống. Đối với ống nối LK, gân được bố trí trên toàn bộ chiều dài 4 lòng ống với khoảng cách là 15mm. Đối với ống nối NMB chỉ có từ 4 đến 7 gân được bố trí từ đầu mỗi ống và phụ thuộc vào chiều dài của ống.

Gân gần tim ống cách tim ống là 30 mm. Trong khi đó, khoảng cách giữa các gân trong ống D410 là 17,8 mm và gân gần tim nhất cách tim ống là 25. Để nối cùng loại cốt thép, hầu hết ống D410 có cường kính ngoài và chiều dài ống là lớn nhất. Đường kính ngoài của ống LK hơi nhỏ hơn so với ống D410.

Đường kính ngoài của ống NMB nhỏ hơn rất nhiều so với hai ống còn lại. Chiều dài của ống NBM nhỏ hơn ống D410 một chút. Chiều dài của ống LK là nhỏ nhất, do một đầu của ống liên kết với thanh cốt thép bằng ren. Có thể nói, với kích thước nhỏ gọn hơn hai ống còn lại, nên thi công ống nối NMB đơn giản hơn.

Jansson [2] sử dụng mối nối LK và NMB để đánh giá về khả năng chịu của hai ống nối này. Kết quả nghiên cứu của Jansson [2] chỉ ra rằng ống nối NMB có 3 khả năng phá hủy là, đứt thanh cốt thép, tuột cốt thanh thép và đứt giữa ống như Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mối nối ống bơm vữa cho dầm bê tông cốt thép" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp và kỹ thuật liên quan đến việc kết nối ống bơm vữa trong xây dựng dầm bê tông cốt thép. Nghiên cứu này không chỉ giúp cải thiện chất lượng và độ bền của các công trình mà còn tối ưu hóa quy trình thi công, từ đó giảm thiểu thời gian và chi phí. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức thực hiện mối nối hiệu quả, cũng như các ứng dụng thực tiễn trong ngành xây dựng.

Để mở rộng thêm kiến thức, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng nghiên cứu ứng dụng bột nghiền mịn điều chế từ tro trấu vào bê tông nhựa chặt 12 5mm, nơi nghiên cứu về các vật liệu mới trong xây dựng. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý xây dựng ứng dụng bim quản lý rủi ro cho nhà thầu dự án nhà cao tầng theo phương thức thiết kế và thi công trường hợp nghiên cứu ở việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quản lý rủi ro trong các dự án xây dựng. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu sử dụng phụ gia khoáng kết hợp với cốt sợi chế tạo bê tông chất lượng cao ứng dụng cho đê biển nam đình vũ hải phòng sẽ cung cấp thêm thông tin về việc cải thiện chất lượng bê tông trong các công trình thủy. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các xu hướng và công nghệ mới trong ngành xây dựng.