ĐẶT VẤN ĐỀ Hiện nay, phẫu thuật cắt khối tá tụy là phương pháp điều trị triệt để duy nhất cho các bệnh lý ác tính vùng quanh bóng Vater. Tử vong sau phẫu thuật cắt khối tá tụy những năm gần đây giảm còn khoảng dưới 2% [10],[35]. Tuy nhiên, tỉ lệ biến chứng sau mổ còn tương đối cao, trong đó rò tụy sau mổ là biến chứng thường gặp chiếm tỉ lệ khoảng 10,4%, làm tăng thời gian nằm viện và làm nặng thêm các biến chứng sau mổ khác [10],[51]. Rò tụy sau mổ là biến chứng khó xử trí và điều trị, làm tăng tỉ lệ tử vong sau mổ, nó có liên quan đến các biến chứng áp xe tồn lưu, nhiễm khuẩn vết mổ, chảy máu do ăn mòn [20],[30],[31],[33],[37].
Theo tác giả Machado (2012) ghi nhận tỉ lệ rò tụy sau mổ chiếm 22,6% hai yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ rò tụy sau mổ là đường kính ống tụy nhỏ hơn 3mm và đặc điểm mô tụy mềm [38]. Theo tác giả Frozanpor (2012) nghiên cứu 182 trường hợp ghi nhận tỉ lệ rò tụy sau mổ là 20,3% và kích thước ống tụy nhỏ trên X-quang cắt lớp vi tính là yếu tố nguy cơ làm tăng tỉ lệ rò tụy [24]. Theo tác giả Vallance (2015) nghiên cứu phân tích gộp ghi nhận mô mềm là một yếu tố quan trọng nhất làm tăng nguy cơ rò tụy sau mổ. Đường kính ống tụy trên X-quang cắt lớp vi tính trước mổ tỉ lệ nghịch với tỉ lệ rò tụy sau mổ [49].
Tại bệnh viện Chợ Rẫy, theo số liệu thống kê trong khoảng thời gian 5 năm (2012-2016) đã phẫu thuật cắt khối tá tụy cho 230 bệnh nhân ung thư quanh bóng Vater nhận thấy đặc điểm mô tụy và đường kính ống tụy có liên quan với biến chứng rò tụy sau mổ. Hai yếu tố làm tăng tỉ lệ rò tụy sau mổ là đặc điểm mô tụy mềm và đường kính ống tụy nhỏ hơn 3mm [10]. Theo tác giả Lê Hữu Phước (2018) ghi nhận đặc điểm mô tụy có liên quan đến rò tụy sau mổ,. 2 và chiếm tỉ lệ 10,2% [3].
Theo tác giả Nguyễn Cao Cương (2008), hồi cứu ghi nhận 98 trường hợp được phẫu thuật cắt khối tá tụy điều trị ung thư quanh bóng Vater tại bệnh viện Bình Dân ghi nhận rò tụy sau mổ là biến chứng thường gặp nhất, chiếm tỉ lệ 8,16% và hai yếu tố nguy cơ được đề cập gồm ống tụy và đặc điểm mô tụy [5]. Dựa trên những bằng chứng từ các nghiên cứu trước đó, từ đó cho thấy đặc điểm mô tụy mềm trên đại thể, mô tụy nhiễm mỡ trên giải phẫu bệnh và kích thước ống tụy nhỏ hơn 3mm là hai yếu tố nguy cơ của rò tụy sau mổ. Do đó, khảo sát mối liên quan giữa rò tụy sau mổ với đặc điểm mô tụy và đường kính ống tụy bằng X-quang cắt lớp vi tính trên bệnh nhân ung thư quanh bóng Vater trước mổ là cần thiết. Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này, nhằm trả lời câu hỏi: Rò tụy sau mổ và đặc điểm mô tụy, đường kính ống tụy trên X-quang cắt lớp vi tính ở bệnh nhân ung thư quanh bóng Vater có liên quan hay không? Đánh giá đặc điểm mô tụy và đường kính ống tụy trên X-quang cắt lớp vi tính trước mổ có tính khả thi và ứng dụng thực tiễn trong tiên lượng rò tụy sau mổ không?.
3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Xác định đường kính ống tụy và đặc điểm mô tụy bằng X-quang cắt lớp vi tính. Đánh giá mối liên quan rò tụy với đường kính ống tụy và đặc điểm mô tụy bằng X-quang cắt lớp vi tính. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Giải phẫu khối tá tụy 1. Vị trí - hình thể ngoài Tá tràng nằm sát thành bụng sau, trước cột sống và các mạch máu, có dạng hình chữ “C” đôi khi có dạng chữ “O”, đi từ môn vị đến góc tá hỗng tràng. Tá tràng gồm có 4 phần (4 đoạn) [5],[10]. Phần trên (D1): nằm ngang, đi từ phải sang trái và hơi hướng lên trên, giữa môn vị và cổ túi mật.
Hai phần ba đầu tiên của phần này hơi phình to và có thể di động được gọi là hành tá tràng. Phần trên tá tràng nằm bên phải cột sống và ngang mức đốt sống thắt lưng. Phần xuống (D2): tiếp với phần trên và tạo với phần trên một góc gọi là góc tá tràng trên. Mặt trước phần xuống tá tràng, có một đoạn bị đại tràng ngang nằm vắt qua chúng dính với nhau bởi mô liên kết lỏng lẻo.
Phía sau có thận phải, tĩnh mạch chủ dưới, cơ thắt lưng lớn. Phía trong phần xuống tá tràng là đầu tụy, ống mật chủ và phần ngoài góc đại tràng phải. Phần ngang (D3): tiếp với phần xuống và hợp với phần xuống một góc được gọi là góc tá tràng dưới. Phía sau, phần ngang tá tràng liên quan với niệu quản phải, cơ thắt lưng lớn bên phải, tĩnh mạch chủ dưới, động mạch chủ bụng.
Phần trên nó là đầu tụy, phần dưới là các quai hỗng tràng. Cấu tạo và hình thể trong Lớp thanh mạc: là phúc mạc tạng bao phủ bề mặt tá tràng, ở hành tá tràng, phúc mạc bao phủ cả mặt trước và mặt sau, các phần còn lại thì phúc. 5 mạc chỉ phủ ở mặt trước còn ở mặt sau thì phúc mạc dính vào thành bụng sau, tạo nên mạc dính tá tụy[5],[10]. Lớp dưới thanh mạc: là tổ chức ngăn cách giữa thanh mạc và cơ.
Lớp cơ: gồm có 2 lớp là lớp cơ dọc ở nông và lớp cơ vòng ở sâu. Lớp dưới niêm mạc: là tổ chức liên kết mỏng và nhão. Có nhiều mạch máu và thần kinh. Lớp niêm mạc: màu hồng mịn gồm có mao tràng là niêm mạc dài ra như lông nhú phủ lòng tá tràng.
Nếp vòng là nếp ngang ở niêm mạc, có ở phần dưới nhú tá lớn để tăng diện tích hấp thu. Nếp dọc là những nếp niêm mạc thấy ở thành sau phần xuống tá tràng và tận hết ở nhú tá lớn. Các tuyến tá tràng: tiết ra dịch tá tràng[5],[10]. Nhú tá lớn: hình nón ở mặt trong của D2 đổ vào nhú tá lớn là ống mật chủ và ống tụy chính.
Nhú tá bé: ở trên nhú tá lớn 3cm đổ vào nhú tá bé là ống tụy phụ [5],[10]. Vị trí và hình thể ngoài Tụy đi từ phần xuống tá tràng đến cuống lách, nằm cắt ngang trước cột sống thắt lưng, chếch lên trên và sang trái, phần lớn tụy ở tầng trên mạc treo đại tràng ngang, một phần nhỏ ở dưới mạc treo này. Tụy dài 15cm, cao 6cm, dày 3cm, nặng 80g và tổ chức mềm màu trắng hồng. Tụy giống như một cái búa có 3 phần: đầu, thân và đuôi [9],[10].
Đầu tuỵ: dẹt, hình gần như vuông, có tá tràng bao quanh, đầu dưới tách ra một mõm gọi là mõm móc, giữa đầu và thân tụy có khuyết tụy. Thân tụy: từ khuyết tụy chếch lên trên sang trái có 2 chiều cong: lõm ra trước ôm cột sống, lõm ra sau ôm dạ dày. Mặt trước lõm áp vào mặt sau dạ dày được phủ bởi phúc mạc thành sau hậu cung mạc nối. Mặt sau phẳng dính.
6 vào thành sau của phúc mạc, đi từ phải sang trái bắt chéo động mạch chủ bụng. Đuôi tụy: nối tiếp với thân tụy, đuôi có thể dài hay ngắn, tròn hay dẹt, phía trên và trước đuôi tụy có động mạch lách chạy qua. Đuôi tụy di động trong mạc nối tụy - lách [9],[10]. Các ống tiết của tụy Ống tụy chính: chạy từ đuôi tụy qua thân tụy theo trục của tụy, tới khuyết tụy thì bẻ cong xuống dưới qua đầu tụy rồi cùng với ống mật chủ đổ vào bóng gan tụy, sau đó đổ vào tá tràng ở nhú tá lớn.
Ống tụy phụ: tách từ ống tụy chính ở nơi ống tụy chính bẻ cong xuống dưới, đi chếch lên trên chạy vào nhú tá bé. Ống mật chủ Ống mật chủ phần trong cuống gan nằm bên phải và phía trước tĩnh mạch cửa, bên phải động mạch gan riêng. Ống mật chủ đi vào sau phần trên tá tràng, sau đầu tụy đi vào khe giữa đầu tụy và tá tràng, bên phải tĩnh mạch cửa và động mạch mạc treo tràng trên, rồi đổ vào bóng gan tụy cùng ống tụy chính vào phần xuống tá tràng [10]. Mạch máu cấp máu cho khối tá tụy Động mạch: khối tá tụy được cấp máu bởi 2 nguồn từ động mạch thân tạng gồm có 2 nhánh là động mạch trên tá tràng cung cấp máu cho mặt trước và sau khối tá tụy và động mạch sau tá tràng.
Động mạch lách cho 4 nhánh đến tụy gồm động mạch lưng tụy, động mạch tụy dưới, động mạch đuôi tụy, động mạch tụy lớn. Từ động mạch mạc treo tràng trên: đến tá tụy bởi động mạch tụy dưới [10]. Tĩnh mạch: Tĩnh mạch của khối tá tụy đều đổ về hệ tĩnh mạch cửa gồm tĩnh mạch trên tá tràng trên, tĩnh mạch sau tá tràng đổ trực tiếp về tĩnh mạch. Tĩnh mạch tụy dưới đổ vào tĩnh mạch mạc treo tràng trên.
Tĩnh mạch thân tụy và đuôi tụy đổ vào tĩnh mạch lách [10]. Ung thƣ quanh bóng Vater 1. Giới thiệu Ung thư quanh bóng Vater là tập hợp những tân sinh ác tính của vùng quanh bóng Vater, xét về mặt vi thể có thể gồm nhiều loại như ung thư biểu mô tuyến, u thần kinh nội tiết, u mô đệm (GIST). Ung thư quanh bóng Vater được mô tả chung do có cùng biểu hiện lâm sàng và nguyên tắc điều trị giống nhau [6],[9],[10],[17],[31],[58],[60],[66].
Halsted năm 1898 định nghĩa vùng quanh bóng Vater được giới hạn trong vòng bán kính 2cm quanh nhú tá lớn [23],[54]. Ông cũng là người đầu tiên thực hiện ca phẫu thuật cắt u vùng quang bóng Vater. Theo đó ung thư quanh bóng Vater bao gồm: ung thư đầu tụy, ung thư đoạn cuối ống mật chủ, ung thư bóng Vater và ung thư tá tràng D2. Tỉ lệ sống còn sau 5 năm sau mổ đối với ung thư quanh bóng Vater khoảng 23%, chiếm tỉ lệ lần lượt là: ung thư đầu tụy (15%), ung thư bóng Vater (39%), ung thư đoạn cuối ống mật chủ (27%) và ung thư tá tràng (59%) [9].
Theo số liệu thống kê trong khoảng thời gian 5 năm (2012-2016) đã phẫu thuật cắt khối tá tụy cho 230 trường hợp ung thư quanh bóng Vater, trong đó ung thư bóng Vater chiếm đa số, ung thư vùng đầu tụy tiên lượng xấu [10]. Dịch tễ học Tại Hoa Kỳ, hàng năm có trên 30.000 trường hợp tử vong liên quan đến bệnh lý ung thư quanh bóng Vater. Trong số đó, ung thư đầu tụy chiếm hàng thứ tư trong các nguyên nhân gây tử vong do ung thư tại Hoa Kỳ, tần suất của .