Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin huyết thanh với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Luận án tiến sĩ nghiên cứu y học nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin huyết thanh với một số nguy cơ tim mạch, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng

Trường đại học

Học viện Quân y

Chuyên ngành

Nội khoa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ y học

2022

209
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

DANH MỤC HÌNH

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Đái tháo đường týp 2 và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ­ chuyển hóa

1.1.1. Dịch tễ học

1.1.2. Yếu tố nguy cơ ĐTĐ týp 2

1.1.2.1. Yếu tố tuổi
1.1.2.2. Yếu tố gen và di truyền
1.1.2.3. Yếu tố môi trường
1.1.2.4. Thừa cân ­ béo phì
1.1.2.5. Ít hoạt động thể lực
1.1.2.6. Chế độ ăn
1.1.2.7. Một số yếu tố khác

1.1.3. Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ týp 2

1.1.3.1. Suy giảm chức năng tế bào
1.1.3.2. Kháng insulin
1.1.3.2.1. Các vị trí kháng insulin
1.1.3.2.1.1. Tại gan
1.1.3.2.1.2. Ở mô ngoại vi
1.1.3.2.1.3. Các cơ quan nội tạng khác
1.1.3.2.1.4. Kháng insulin tại tế bào

Tóm tắt

I. Tổng quan về mối liên quan giữa Resistin và Visfatin

Nghiên cứu mối liên quan giữa ResistinVisfatin với nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường type 2 đang thu hút sự chú ý của cộng đồng y học. ResistinVisfatin là hai adipokine quan trọng, có vai trò trong quá trình chuyển hóa và viêm. Chúng được sản xuất chủ yếu từ mô mỡ và có liên quan đến các biến chứng tim mạch ở bệnh nhân mắc bệnh tiểu đường type 2. Việc hiểu rõ mối liên quan này có thể giúp cải thiện chiến lược điều trị và phòng ngừa các biến chứng tim mạch cho bệnh nhân.

1.1. Resistin và Visfatin Đặc điểm và chức năng

Resistin và Visfatin là hai hormon được tiết ra từ mô mỡ, có ảnh hưởng lớn đến quá trình chuyển hóa glucose và lipid. Resistin được biết đến với vai trò gây kháng insulin, trong khi Visfatin có tác dụng tương tự insulin, giúp điều hòa nồng độ glucose trong máu. Nghiên cứu cho thấy nồng độ của hai hormon này có thể dự đoán nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường.

1.2. Tình hình nghiên cứu hiện tại về Resistin và Visfatin

Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng nồng độ ResistinVisfatin có thể liên quan đến các yếu tố nguy cơ tim mạch như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp về cơ chế tác động của chúng trong bệnh lý tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường type 2.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu mối liên quan

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về ResistinVisfatin, nhưng vẫn còn nhiều thách thức trong việc xác định mối liên quan giữa chúng với nguy cơ tim mạch. Các yếu tố như di truyền, môi trường và lối sống có thể ảnh hưởng đến nồng độ của hai hormon này, làm cho việc đánh giá chính xác trở nên khó khăn. Hơn nữa, sự khác biệt trong phương pháp nghiên cứu cũng có thể dẫn đến những kết quả không đồng nhất.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến nồng độ Resistin và Visfatin

Nồng độ của ResistinVisfatin có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như tuổi tác, giới tính, chỉ số khối cơ thể (BMI) và tình trạng viêm. Những yếu tố này cần được xem xét kỹ lưỡng trong các nghiên cứu để có được kết quả chính xác hơn.

2.2. Khó khăn trong việc xác định mối liên quan

Việc xác định mối liên quan giữa Resistin, Visfatin và nguy cơ tim mạch gặp nhiều khó khăn do sự phức tạp của cơ chế bệnh sinh. Các nghiên cứu hiện tại thường chỉ tập trung vào một số yếu tố nhất định mà không xem xét toàn diện các yếu tố khác có thể ảnh hưởng.

III. Phương pháp nghiên cứu mối liên quan giữa Resistin và Visfatin

Để nghiên cứu mối liên quan giữa ResistinVisfatin với nguy cơ tim mạch, các phương pháp như xét nghiệm huyết thanh, phân tích thống kê và mô hình hóa dữ liệu thường được sử dụng. Các nghiên cứu này giúp xác định nồng độ của hai hormon và mối liên hệ của chúng với các yếu tố nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường type 2.

3.1. Xét nghiệm huyết thanh để đo nồng độ Resistin và Visfatin

Xét nghiệm huyết thanh là phương pháp chính để đo nồng độ ResistinVisfatin trong cơ thể. Các mẫu máu được thu thập và phân tích bằng các kỹ thuật như ELISA để đảm bảo độ chính xác và tin cậy của kết quả.

3.2. Phân tích thống kê trong nghiên cứu

Phân tích thống kê giúp xác định mối liên quan giữa nồng độ Resistin, Visfatin và các yếu tố nguy cơ tim mạch. Các phương pháp như hồi quy logistic và phân tích đa biến thường được áp dụng để đánh giá tác động của các yếu tố này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu

Kết quả từ các nghiên cứu về ResistinVisfatin có thể giúp cải thiện chiến lược điều trị cho bệnh nhân tiểu đường type 2. Việc xác định nồng độ của hai hormon này có thể giúp bác sĩ dự đoán nguy cơ tim mạch và đưa ra các biện pháp can thiệp kịp thời. Hơn nữa, các nghiên cứu này cũng mở ra hướng đi mới trong việc phát triển các phương pháp điều trị nhằm giảm thiểu nguy cơ tim mạch.

4.1. Tác động của Resistin và Visfatin đến điều trị bệnh tiểu đường

Nghiên cứu cho thấy nồng độ ResistinVisfatin có thể ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị bệnh tiểu đường. Việc điều chỉnh nồng độ của hai hormon này có thể giúp cải thiện tình trạng kháng insulin và giảm nguy cơ tim mạch.

4.2. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng lâm sàng

Kết quả từ các nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa nồng độ Resistin, Visfatin và nguy cơ tim mạch. Những phát hiện này có thể được áp dụng trong lâm sàng để theo dõi và điều trị bệnh nhân tiểu đường type 2 hiệu quả hơn.

V. Kết luận và tương lai của nghiên cứu

Mối liên quan giữa Resistin, Visfatin và nguy cơ tim mạch ở bệnh nhân tiểu đường type 2 là một lĩnh vực nghiên cứu đầy tiềm năng. Các nghiên cứu hiện tại đã chỉ ra rằng hai hormon này có thể đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của các biến chứng tim mạch. Tuy nhiên, cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ hơn về mối liên quan này và tìm ra các biện pháp can thiệp hiệu quả.

5.1. Tương lai của nghiên cứu về Resistin và Visfatin

Nghiên cứu trong tương lai cần tập trung vào việc xác định cơ chế tác động của ResistinVisfatin đối với nguy cơ tim mạch. Việc phát triển các phương pháp điều trị mới dựa trên các hormon này có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.

5.2. Định hướng nghiên cứu tiếp theo

Định hướng nghiên cứu tiếp theo nên bao gồm việc khảo sát mối liên quan giữa Resistin, Visfatin và các yếu tố nguy cơ khác như viêm, rối loạn lipid máu. Những nghiên cứu này sẽ giúp làm sáng tỏ hơn về vai trò của hai hormon này trong bệnh lý tim mạch.

27/07/2025
Luận án tiến sĩ y học nghiên cứu mối liên quan giữa resistin visfatin huyết thanh với một số nguy cơ tim mạch chuyển hóa ở bệnh nhân đái tháo đường týp 2

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đái tháo đường týp 2 và mối liên quan với các yếu tố nguy cơ tim mạch ­ chuyển hóa 1. Dịch tễ học Tỷ lệ bệnh ĐTĐ trong cộng đồng tăng nhanh ở mức đáng báo động, cứ khoảng 15 năm thì số người mắc ĐTĐ trên Thế giới lại tăng lên gấp đôi. Theo Liên đoàn ĐTĐ quốc tế (IDF) dự báo đến năm 2045 số người bị ĐTĐ sẽ là 629 triệu người tăng 48% so với con số 425 triệu người ĐTĐ năm 2017 [1].

Tỷ lệ mắc bệnh tăng tùy theo vị trí địa lý; khu vực và mức thu nhập của xã hội; ở thành phố tỷ lệ mắc bệnh khoảng 10,85%, nông thôn 7,2% dân số, các nước có mức thu nhập cao tỷ lệ ĐTĐ chiếm 10,4%, các nước có thu nhập thấp tỷ lệ mắc bệnh là 4,0% dân số mắc bệnh. Khu vực Tây Thái Bình Dương, Ấn Độ, Châu Phi, Châu Á có tỷ lệ mắc bệnh tăng nhanh trong những năm gần đây. Tại Việt Nam từ 1994 tỷ lệ mắc ĐTĐ là 1,4 %; đến nay tỷ lệ mắc bệnh đã tăng nhiều lần, năm 2012 tỷ lệ ĐTĐ là 5,4%, rối loạn dung nạp glucose là 13,7% dân số [20]. Yếu tố nguy cơ ĐTĐ týp 2 ­ Yếu tố tuổi: được xếp lên vị trí hàng đầu trong số các yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ týp 2.

Ở các nước phát triển phần lớn số bệnh nhân ĐTĐ có tuổi >65, chỉ có 8% số bệnh nhân ở độ tuổi <44 [21]. ­ Yếu tố gen và di truyền Những người có bố, mẹ hoặc anh chị em ruột bị bệnh ĐTĐ có nguy cơ mắc bệnh cao gấp từ 4 đến 6 lần so với những người khác. Hiện nay đã xác định được khoảng 70 locus khác nhau, đã xác định một gen hay nhiều gen đích liên quan đến ĐTĐ týp 2 biến đổi sinh học là sự tác động giữa yếu 18 tố gen và môi trường, tuy nhiên chưa phát hiện được bằng chứng di truyền qua các gen thuộc HLA ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 [22]. ­ Yếu tố môi trường Tình hình phát triển kinh tế, tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa, ô nhiễm môi trường tăng nhanh, Châu Á trở thành trung tâm dịch bệnh ĐTĐ tiếp đến các nước vùng Vịnh, Trung Đông, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản.

Tỷ lệ mắc ĐTĐ týp 2 tăng nhanh ở cộng đồng những người nhập cư gốc Ấn và Châu Á [23]. ­ Thừa cân ­ béo phì Sự thay đổi lối sống, ăn nhiều thực phẩm có chỉ số đường cao, ít vận động là yếu tố nguy cơ dẫn đến thừa cân, béo phì, làm tăng tình trạng kháng insulin, suy giảm chức năng tế bào β của tiểu đảo tụy, rối loạn dung nạp glucose xuất hiện bệnh ĐTĐ [23]. Béo phì có liên quan đến các rối loạn chuyển hoá, rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, rối loạn đường máu lúc đói, ĐTĐ týp 2, các yếu tố nguy cơ tim mạch ­ chuyển hóa, tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư, ngưng thở khi ngủ [24]. Béo phì làm tăng khối lượng mô mỡ đặc biệt là mỡ tạng gây ra những rối loạn chuyển hoá, giải phóng các acid béo không este hoá (NEFA­ Non esterified fatty acid), glycerol, các hormone của mô mỡ và các cytokine tiền viêm, rối loạn điều hoà “xuôi dòng” của dòng tín hiệu insulin gây kháng insulin.

Tác dụng “gây độc” do tăng NEFA kết hợp với tăng nồng độ glucose máu ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 làm tăng tình trạng “ngộ độc đường ­ mỡ” [25]. Các incretin ­ hormon được tổng hợp từ các niêm mạc ruột non, incretin IGF – 1 (insulin like growth factor­1) kích thích tăng tiết insulin đáp ứng với bữa ăn, tăng biệt hoá tế bào tiểu đảo tụy ngăn chặn quá trình tế bào chết theo chương trình [26]. 19 ­ Ít hoạt động thể lực Lối sống ít hoạt động thể lực dẫn tới tình trạng tăng dự trữ năng lượng, tăng thành phần mô mỡ, giảm tỷ lệ giữa khối nạc/ khối mỡ, tăng tỷ lệ người thừa cân béo phì là thủ phạm gián tiếp phát sinh bệnh ĐTĐ týp 2 [27]. ­ Chế độ ăn Chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, nhiều carbonhydrat tinh chế, thiếu vitamin nhất là thiếu vitamin D, vitamin K, thiếu các yếu tố vi lượng như kẽm, selen góp phần làm thúc đẩy sự phát triển bệnh ĐTĐ týp 2 [28].

­ Một số yếu tố khác + Stress khiến cơ thể tăng tiết catecholamin và các hormon làm tăng thoái biến glycogen thành glucose, tạo thêm nhiều năng lượng cho các nơ­ ron. + Rối loạn glucose máu lúc đói (IFG), rối loạn dung nạp glucose (IGT) là yếu nguy cơ tiến tri ển thành bệnh ĐTĐ týp 2 đượ c coi là tiền ĐTĐ. + Các yếu tố liên quan đến thai nghén ĐTĐ thai kỳ được chẩn đoán khi có rối loạn glucose với bất kỳ mức độ nào, được phát hiện lần đầu hoặc khởi phát tại thời kỳ mang thai. Tại Mỹ tỷ lệ ĐTĐ thai kỳ chiếm khoảng 4% tổng số phụ nữ đang mang thai.

Sau 15 năm kể từ khi bị ĐTĐ thai kỳ có khoảng 40% phụ nữ bị ĐTĐ thai kỳ bị mắc bệnh ĐTĐ týp 2 [29] + Bệnh lý của tụy: Viêm tụy, chấn thương tụy cắt tụy toàn bộ, ung thư tuyến tụy, xơ tuỵ, kén tụy. 20 ­ Các bệnh nội tiết khác: Bệnh to đầu chi, hội chứng cushing, u tủy thượng thận, cường giáp, u tiết somatostatin, cường catecholamin, u tiết aldosteron làm giảm sự phóng thích insulin. + ĐTĐ do thuốc và hóa chất: Một số thuốc như vacor, pentamidin, vincristine, các corticoid, chất độc màu da cam cũng có thể là yếu tố nguy cơ gây bệnh ĐTĐ [30]. Cơ chế bệnh sinh ĐTĐ týp 2 Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2 được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau liên quan với vai trò của các cơ quan trong cơ thể như: gan, mô cơ, mô mỡ, thận.

Cơ chế chủ yếu đã được công nhân là kháng insulin và suy giảm chức năng tế bào ß của tiểu đảo tụy. Có 8 cơ chế khác nhau làm tăng glucose máu bệnh nhân ĐTĐ týp 2: ­ Suy giảm chức năng tế bào Suy giảm chức năng tế bào bêta tiểu đảo tuỵ xảy ra sớm trước khi ĐTĐ týp 2 được chẩn đoán. Khi bệnh nhân được chẩn đoán ĐTĐ týp 2 thì chức năng tế bào bêta tuyến tuỵ đã suy giảm khoảng 50% [31]. ­ Kháng insulin Kháng insulin được định nghĩa: “Kháng insulin là tình trạng giảm đáp ứng sinh học của các tế bào, các cơ quan đích với tác dụng của insulin”.

Kháng insulin là trạng thái bệnh lý thầm lặng, là yếu tố nguy cơ quan trọng phát sinh bệnh ĐTĐ týp 2, là yếu tố nguy cơ chính gây hội chứng tim mạch –chuyển hóa. Thiếu hoặc giảm độ nhạy insulin dẫn đến giảm khả năng vận chuyển glucose từ ngoại bào vào trong tế bào gây hiện tượng tế bào đói glucose, thiếu năng lượng chuyển hoá từ glucose, tăng tổng hợp glucose làm nồng độ glucose máu tăng cao và kéo dài sẽ dẫn đến bệnh ĐTĐ týp 2 [32]. 21 * Các vị trí kháng insulin: + Tại gan: Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 do rối loạn tiết insulin, lượng insulin do tế bào ß của tiểu đảo tụy tiết ra không đủ để ức chế được sự sản xuất glucose từ gan, gan tiếp tục phân giải glycogen thành glucose đưa vào máu làm tăng glucose máu lúc đói, giảm khả năng nhận và dự trữ glucose tại gan gây tăng glucose máu sau ăn. Não và các tổ chức thần kinh tiêu thụ khoảng 50% tổng lượng glucose trong cơ thể, ở trạng thái nền hoặc trạng thái đói.

Nhu cầu tiêu thụ glucose cao được cung cấp chủ yếu từ gan (sản xuất khoảng 80­90% lượng glucose trong cơ thể). Các yếu tố khác làm tăng tốc độ sản xuất glucose từ gan như: tăng glucagon huyết thanh, tăng độ nhạy cảm của gan với glucagon. Tình trạng “ngộ độc mỡ” làm tăng biểu hiện và hoạt tính của các enzym liên quan đến tân tạo glucose như phosphoenolpyruvat carboxykinase, pyruvate carboxylase. G6PD là một enzym kích thích giải phóng glucose từ gan.

Thận tổng hợp nhiều enzym có liên quan với sản xuất glucose và ước tính lượng glucose do thận tổng hợp chiếm từ 5 – 20% tổng lượng glucose sản xuất nội sinh. Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 lượng glucose tân tạo tại thận ở trạng thái nền tăng cao làm tăng nồng độ glucose máu [32]. + Ở mô ngoại vi Người khoẻ mạnh mô cơ sử dụng khoảng 80%, mô mỡ chỉ sử dụng khoảng 1% nguồn glucose được cung cấp. Phương pháp “kẹp insulin” ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 cho thấy kháng insulin tại mô cơ là yếu tố bệnh sinh quan trọng gây ĐTĐ týp 2.

Tốc độ hấp thu glucose ở mô cơ trên bệnh nhân ĐTĐ týp 2 giảm đến 50% so với người bình thường. Ở bệnh nhân ĐTĐ týp 22 2 có rối loạn vận chuyển glucose và quá trình phosphoryl hoá, giảm tổng hợp glycogen, giảm oxy hoá glucose [33]. + Các cơ quan nội tạng khác: Khi sử dụng kỹ thuật “kẹp glucose” người ta nhận thấy chỉ có khoảng 7% lượng glucose được thu nạp ở các cơ quan nội tạng. Tăng nồng độ các acid béo tự do sẽ ức chế mạnh sự gắn của insulin vào tế bào gan, kích thích quá trình tân tạo glucose tại gan, làm tăng tình trạng kháng insulin và tăng glucose máu [34].

+ Kháng insulin tại tế bào Tác dụng của insulin lên chuyển hoá glucose bắt đầu bằng việc insulin gắn với các thụ thể đặc hiệu trên màng tế bào. ­ Các vị trí biểu hiện của GLUT ­ GLUTl ở bào thai, não, hàng rào mạch máu, mô mỡ, mô cơ (mức biểu hiện thấp), tế bào nuôi cấy mô, các tế bào chuyển dạng. GLUTl có chức năng tham gia vận chuyển Glucose qua hàng rào mạch máu võng mạc, hàng rào máu não, duy trì hoạt động vận chuyển cơ bản hay gọi là ‘house­ keeping’ ở hầu hết các tế bào. ­ GLUT2 ở gan, tế bào ß tiểu đảo tụy, ống lượn xa của thận, ruột non (màng đáy).

GLUT2 là chất vận chuyển có công suất cao, ái lực thấp phù hợp với vai trò của nó trong việc vận chuyển glucose ra, vào gan và giữ vai trò chính bảo đảm sự nhạy cảm với glucose ở tuyến tụy. ­ GLUT3 ở não và các tế bào thần kinh ở thỏ, não và thần kinh ở bào thai (mức biểu hiện thấp), thận, gan, tim ở người. GLUT3 là chất vận chuyển có ái lực cao ở não và thần kinh, phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu năng lượng của não và thần kinh. Chất vận chuyển có ái lực cao trong các tế bào này có khả năng tận dụng Glucose ngay cả khi nồng độ Glucose thấp dưới mức bình thường.

23 ­ GLUT4 ở cơ vân, cơ tim và mô mỡ. GLUT4 được gọi là chất vận chuyển glucose đáp ứng với tác dụng của insulin.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ