Luận án về mô hình vật lý và ứng dụng hệ phổ kế siêu cao tần trong xác định độ ẩm đất

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu các mô hình vật lý và ứng dụng hệ phổ kế siêu cao tần trong nghiên cứu xác định, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Công nghệ vũ trụ

Tác giả

Võ Thị Lan Anh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án
127
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC HÌNH VẼ

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

Xuất xứ của đề tài luận án

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Phương pháp nghiên cứu của luận án

Các luận điểm bảo vệ

Đóng góp khoa học mới của luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỘ ẨM ĐẤT VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1. Tổng quan về các tính chất vật lý cơ bản của đất

1.2. Các phương pháp nghiên cứu độ ẩm đất

1.2.1. Các phương pháp đo truyền thống

1.2.2. Các phương pháp viễn thám

1.3. Tổng quan các nghiên cứu viễn thám độ ẩm đất ở trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG MÔ HÌNH VẬT LÝ XÁC ĐỊNH ĐỘ ẨM ĐẤT

2.1. Tổng quan về các mô hình vật lý xác định độ ẩm đất

2.1.1. Phương pháp hồi quy dựa trên phép đo cấu hình đơn giản và bản đồ phân loại thực vật của Jackson (1993)

2.1.2. Phương pháp hồi quy dựa trên phép đo đơn cực và các chỉ số thực vật của Van de Greind và Owe (1994)

2.1.3. Phương pháp hồi quy 2 tham số, quan trắc hai phân cực và đa góc của Wingneron et al.

2.1.4. Mô hình hồi quy 2 tham số, quan trắc lưỡng cực của Owe et al(2001)

2.2. Xây dựng mô hình vật lý xác định độ ẩm đất

2.2.1. Mô hình vật lý về sự phát xạ tự nhiên của đất

2.2.2. Các tham số ảnh hưởng đến độ phát xạ tự nhiên của đất

2.2.3. Mô hình bán thực nghiệm Wang–Schmugge về hằng số điện môi của đất

3. CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG QUY TRÌNH ĐO NHIỆT ĐỘ PHÁT XẠ CỦA ĐẤT BẰNG PHỔ KẾ SIÊU CAO TẦN

3.1. Tổng quan về phổ kế siêu cao tần và nguyên lý hoạt động

3.1.1. Phổ kế siêu cao tần kiểu công suất toàn phần

3.1.2. Phổ kế siêu cao tần kiểu Dicke

3.1.3. Phổ kế siêu cao tần kiểu bù tạp âm

3.1.4. Các chỉ tiêu kỹ thuật chính của các phổ kế SCT băng L

3.2. Quy trình ứng dụng phổ kế siêu cao tần trong xác định độ ẩm đất

3.2.1. Chuẩn hóa phổ kế và chuẩn bị mẫu đất

3.2.2. Xây dựng quy trình đo nhiệt độ phát xạ của đất

3.2.3. Phân tích mẫu đất thực nghiệm

4. CHƯƠNG 4: LẬP CHƯƠNG TRÌNH TÍNH TOÁN ĐỘ ẨM ĐẤT

4.1. Nghiên cứu xây dựng thuật toán tính toán độ ẩm đất

4.2. Lập chương trình tính toán số liệu

4.3. Phân tích đánh giá các kết quả tính toán độ ẩm đất từ mô hình vật lý bán thực nghiệm

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC C_1: Ứng dụng phổ kế LNIR xác định độ ẩm đất

PHỤ LỤC C_2: Đồ thị

PHỤ LỤC C_3: Bảng đo nhiệt độ phát xạ của bầu trời tại các góc đo của Anten[52]

Tóm tắt

I. Xuất xứ của đề tài luận án

Đất là một yếu tố quan trọng trong hệ sinh thái, hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và là môi trường sống cho nhiều loài động vật. Theo Dokuchaev, đất được coi là một thực thể tự nhiên có nguồn gốc và lịch sử phát triển riêng. Đất khác biệt với đá, được hình thành từ quá trình phong hóa và sự phân hủy của các chất hữu cơ. Đất có vai trò quan trọng trong việc cung cấp oxy và hấp thụ carbon dioxide, ảnh hưởng đến sự sống trên Trái Đất. Độ ẩm đất, được định nghĩa là hàm lượng nước trong đất, có vai trò thiết yếu trong việc duy trì sự sống của các loài sinh vật. Thông tin về độ ẩm đất rất quan trọng trong nhiều lĩnh vực như khí tượng, thủy văn, nông - lâm nghiệp, và an ninh lương thực. Tuy nhiên, việc xác định chính xác độ ẩm đất trên diện rộng là một thách thức lớn. Tại Việt Nam, độ ẩm đất chủ yếu được đo bằng phương pháp truyền thống, dẫn đến những hạn chế trong việc quản lý tài nguyên đất và nước.

II. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

Mục tiêu của luận án là nghiên cứu phương pháp viễn thám siêu cao tần trong xác định độ ẩm đất thông qua các phép đo của hệ phổ kế siêu cao tần. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm tổng quan về độ ẩm đất và các phương pháp nghiên cứu, tổng quan về ứng dụng viễn thám siêu cao tần trong nghiên cứu độ ẩm đất, nghiên cứu và xây dựng mô hình vật lý bán thực nghiệm về độ ẩm đất, thiết lập quy trình thực nghiệm đo nhiệt độ phát xạ của mặt đất bằng phổ kế siêu cao tần, và lập chương trình tính toán độ ẩm đất dựa trên mô hình vật lý bán thực nghiệm và các dữ liệu đầu vào. Những nhiệm vụ này sẽ giúp cung cấp dữ liệu chính xác và đáng tin cậy cho việc quản lý tài nguyên đất.

III. Phương pháp nghiên cứu của luận án

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu tổng hợp và phân tích lý thuyết về các mô hình vật lý trong nghiên cứu độ ẩm đất. Phương pháp thực nghiệm sử dụng phổ kế siêu cao tần để đo nhiệt độ phát xạ của mặt đất, cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho mô hình vật lý tính toán độ ẩm đất. Phương pháp tính toán độ ẩm đất theo mô hình sử dụng phần mềm Excel. Luận điểm bảo vệ thứ nhất là tích hợp mô hình Fresnel và mô hình Wang-Schumugge để sử dụng số liệu đo nhiệt độ phát xạ bằng phổ kế SCT nhằm xác định độ ẩm đất một cách bán thực nghiệm. Luận điểm bảo vệ thứ hai là quy trình đo nhiệt độ phát xạ bằng phổ kế SCT và thuật toán hồi quy độ ẩm đất cho phép xác định độ ẩm đất trên diện rộng, phục vụ các ứng dụng trong nông nghiệp.

IV. Đóng góp khoa học mới của luận án

Luận án đã thiết lập được quy trình chuẩn để đo nhiệt độ phát xạ của mặt đất bằng phổ kế siêu cao tần, cung cấp dữ liệu thực nghiệm cho mô hình vật lý. Đây là lần đầu tiên tại Việt Nam, độ ẩm đất được nghiên cứu một cách bài bản cả về lý thuyết và thực nghiệm bằng phương pháp viễn thám siêu cao tần. Những kết quả này không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết về độ ẩm đất mà còn mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng công nghệ viễn thám trong nghiên cứu tài nguyên đất, giúp cải thiện khả năng quản lý và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương I trình bày tổng quan về độ ẩm đất, các tính chất vật lý cơ bản của đất, các phương pháp tính độ ẩm đất theo truyền thống và hiện đại, tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về ứng dụng viễn thám xác định độ ẩm đất, trong đó bao gồm viễn thám siêu cao tần thụ động. Tổng quan về các tính chất vật lý cơ bản của đất Độ ẩm đất thường được định nghĩa là hàm lượng nước chứa trong đất, hay được biểu thị bằng phần trăm tỷ số giữa khối lượng nước chứa trong đất và khối lượng đất khô. Để đặc trưng cho các tính chất vật lý và hàm lượng nước trong đất, các nghiên cứu đã đưa ra một số thông số vật lý của đất như sau: a) Dung trọng của đất [9, 14] Định nghĩa: Dung trọng của đất là khối lượng (g) của một đơn vị thể tích đất (cm3) ở trạng thái tự nhiên (có khe hở) sau khi được sấy khô kiệt. Dung trọng của đất được người ta xác định bằng cách đóng ống kim loại hình trụ có thể tích bên trong 100cm3 thẳng góc với bề mặt đất ở trạng thái hoàn toàn tự nhiên, sau đó đem sấy khô kiệt rồi tính theo công thức sau: D=P/V (1.1) Trong đó: D - Dung trọng của đất (g/cm3) P - Khối lượng đất tự nhiên trong ống trụ đóng sau khi được sấy khô kiệt (được tính theo g) 17 V - Thể tích của ống đóng (được tính theo cm3) Dung trọng của đất thường nhỏ hơn so với tỷ trọng vì thể tích đất khô kiệt được xác định ở đây bao gồm cả các hạt đất rắn và các khe hở tự nhiên trong đất.

Dung trọng của đất phụ thuộc vào cấp hạt cơ giới, độ chặt và kết cấu của đất. Các loại đất tơi xốp, giàu chất hữu cơ và mùn thường có dung trọng nhỏ và ngược lại những loại đất chặt bí kém tơi xốp và nghèo chất hữu cơ thường có dung trọng lớn. Dung trọng của đất thường được sử dụng trong việc tính độ xốp của đất, tính khối lượng đất canh tác trên 1 ha để xác định trữ lượng các chất dinh dưỡng, trữ lượng nước có trong đất hay độ ẩm đất. b) Tỷ trọng của đất [9, 14] Định nghĩa: Tỷ trọng của đất là tỷ số khối lượng của một đơn vị thể tích đất ở trạng thái rắn, khô kiệt với các hạt đất xếp sít vào nhau so với khối lượng nước cùng thể tích ở điều kiện nhiệt độ 40C.

Để tính tỉ trọng người ta áp dụng công thức: D = P/P1 (1.2) Trong đó: d - Tỷ trọng của đất P - Khối lượng các hạt đất (khô kiệt, xếp xít vào nhau và không có khoảng hổng không khí) trong một thể tích xác định (thường được đo bằng g/cm3 P1 - Khối lượng nước được chứa trong cùng thể tích ở điều kiện T0 = 40C(g/cm3). Tỷ trọng các loại khoáng vật khác nhau có sự giao động khá lớn song nhìn chung biến động trong phạm vi từ 2. Ý nghĩa thực tiễn: Tỷ trọng của đất được sử dụng trong các công thức tính toán độ xốp, công thức tính tốc độ, thời gian sa lắng của các cấp hạt đất trong phân tích thành phần cơ giới. Thông qua tỷ trọng đất người ta cũng có thể 18 đưa ra được những nhận xét sơ bộ về hàm lượng chất hữu cơ, hàm lượng sét hay tỷ lệ sắt, nhôm của một loại đất cụ thể nào đó.

c) Độ xốp của đất là [9, 14] Định nghĩa: Độ xốp của đất là tỷ lệ % các khe hở chiếm trong đất so với thể tích chung của đất (ký hiệu là P). Công thức tính độ xốp của đất : Do các khe hở trong đất có các hình dạng phức tạp và các kích thước rất khác nhau nên việc tính toán trực tiếp thể tích của các khe hở trong đất là rất khó, do đó để xác định được độ xốp của đất người ta phải tính một cách gián tiếp từ tỷ trọng và dung trọng của đất theo công thức sau: P (%) = (1 - D/d) x 100 (1.3) Trong đó: P - Độ xốp của đất (%) D - Dung trọng của đất; d - Tỷ trọng của đất. Độ xốp của đất có thể biến động từ 30 -70% tùy thuộc vào đất rời rạc không có kết cấu như đất cát, đất bạc màu cho đến những loại đất có kết cấu viên như đất đỏ vàng đồi núi. Như vậy độ xốp phụ thuộc vào kết cấu, tỷ trọng và dung trọng của đất.

d) Độ ẩm khô héo [14] là độ ẩm mà rễ cây không sử dụng được và bị héo, rũ lá. Đơn vị đo là % hoặc mm. Trong khi phát triển, cây tiêu thụ lượng nước rất lớn. Nước này thâm nhập vào cây qua bộ rễ.

Độ ẩm của đất sau khi mưa hoặc tưới dần dần giảm sút, nước không thấm vào rễ cây được nữa. Tế bào co lại, lá cây rũ xuống và cây bị héo. Lúc đầu cây chỉ héo ban ngày trời nóng, chiều xuống cây trở lại trạng thái bình thường. Nhưng cuối cùng khi độ ẩm của đất hạ xuống đến mức lá cây héo và rũ đi, sau một đêm, sáng mai không trở lại trạng thái bình thường được.

19 Độ ẩm của đất gây ra hiện tượng cây héo, sau một đêm không hồi phục gọi là hệ số cây héo hay độ ẩm cây héo. đ) Độ trữ ẩm cực đại của đất [8 ] (hay là sức chứa ẩm tối đa đồng ruộng - tiếng Anh là Moisture Field capacity) là đại lương đặc trưng cho khả năng giữ nước lớn nhất của đất. Đây là chỉ số quan trọng là mốc để điều chỉnh chế độ tưới cho cây trồng. e) Hằng số nước [8],[14]: Hằng số nước là một đại lượng mô tả lượng nước tới hạn tồn tại trong các đối tượng tự nhiên.

Hằng số nước có 3 tiêu chí quan trọng nhất: lượng nước bị hút, độ ẩm cây héo, độ trữ ẩm cực đại. Gọi là hằng số nước vì đây là những tính chất đặc trưng không thay đổi. Ví dụ: độ hút ẩm không khí cực đại, độ trữ ẩm phân tử cực đại, độ ẩm cây héo, độ trữ ẩm toàn phần, độ trữ ẩm cực đại (còn gọi là độ trữ ẩm đồng ruộng hoặc sức chứa ẩm tối đa. Độ trữ ẩm cực đại là một trong những hằng số nước quan trọng nhất, thuật ngữ tiếng Anh là Moisture Field Capacity.

Độ ẩm là biến số, thay đổi tuỳ thuộc vào thời tiết, ví dụ khi nắng thì đất khô, khi mưa thì đất ẩm., còn độ trữ ẩm cực đại là một đại lượng không đổi, mỗi loại đất có một đặc trưng riêng, phản ánh khả năng trữ nước lớn nhất của mình. Trong số các hằng số nước thì "độ trữ ẩm cực đại đồng ruộng" là một chỉ số quan trọng nhất để điều chỉnh chế độ nước cho cây trồng [14]. f) Trữ lượng nước trong đất Nước thâm nhập vào đất do mưa hoặc do tưới, sau đó một phần tiêu hao do cây trồng lấy sử dụng (bốc hơi sinh học), do bốc hơi từ đất trần (bốc hơi lý học), một phần tổn thất do dòng chảy (chảy trên mặt, chảy trong phẫu diện), một phần di chuyển xuống nước ngầm v. Phần độ ẩm không bị tổn thất sẽ được giữ lại trong phẫu diện.

Lượng nước này được gọi là lượng nước dự trữ trong đất hoặc còn gọi là trữ lượng nước trong đất [8], [14]. Về mùa mưa, nước được tích giữ lại đến mùa hè, thời tiết khô hạn, không ít trường hợp ngay trên tầng mặt đất khô cằn, độ ẩm đất ngang bằng hoặc thậm chí dưới độ ẩm cây héo, 20 nhưng nhờ nước được tích giữ ở những tầng dưới, nếu biết trồng những loại cây có bộ rễ ăn sâu thì sẽ tận dụng được lượng nước dự trữ trong đất một cách hiệu quả. Để tiện nhận xét so sánh, trữ lượng nước được biểu thị theo các lớp 0 - 50; 50 - 100 và 0 - 100cm. Đơn vị được tính là mm cột nước.

Muốn biểu thị bằng m3/ha thì nhân với 10, ví dụ trữ lượng nước trong đất của Ferralsols ở tầng 0 - 50 là 180 mm hoặc bằng 1800 m3/ha. g) Áp lực ẩm Trong các tài liệu về độ ẩm đất thường dùng khái niệm "áp lực ẩm" [8], [14] vì lý do sau đây: (1) khái niệm áp lực thường được dùng rộng rãi trong thực tiễn, (2) các kết quả đo các lực khác nhau như lực thẩm thấu, lực bề mặt, lực cơ học v. theo truyền thống thường được dùng thứ nguyên áp lực. Đất được bão hoà ẩm thì lực mao quản thế năng sẽ bằng 0.

Đất càng khô dần thì thế năng càng tăng theo trị số tuyệt đối âm (-), nghĩa là về phương diện đại số thì đại lượng này càng giảm. Đất càng khô thì khi tiếp xúc với nước chúng càng tăng khả năng hấp thụ hoặc "hút" nước về phía mình. Khi đất bão hoà ẩm thì thế năng mao quản sẽ bằng 0 và do đó áp lực ẩm được quy ước bằng 0. Khi đó đất ở trạng thái có áp lực lớn nhất.

Đất càng khô, độ ẩm đất càng giảm và làm cho áp lực ẩm càng nhỏ hơn 0, lúc đó áp lực ẩm sẽ mang dấu (-). Theo thang đánh giá, áp lực ẩm trong đất có trị số từ 0 đến (- 5 atm) thì cây trồng phát triển tốt, nước rất dễ sử dụng cho cây trồng; từ (-5 atm) đến (-15 atm) mức độ hữu hiệu là trung bình; từ (-15 atm) đến (-25 atm) - khó sử dụng và dưới mức (-25 atm) rất khó sử dụng, cây trồng sẽ héo và chết. Các phương pháp nghiên cứu độ ẩm đất 1. Các phương pháp đo truyền thống Từ trước đến nay, trên thế giới có nhiều phương pháp đo độ ẩm đất, có thể kể đến một vài phương pháp phổ biến như sau: 21 a/ Phương pháp Kachinski [8],[ 14] Là phương pháp xác định tính thấm nước của đất trong phòng thí nghiệm, là phương pháp phổ biến và chính xác nhất.

Mục đích của phương pháp này là tính lượng nước hút ẩm trong đất trong từng điều kiện nhất định, từ đó tính được độ ẩm đất. Công thức tính độ thấm nước của đất như sau: K=(100+W)/100 (1.4) Trong đó: W - là hàm lượng nước hút ẩm không khí (%). K - lượng nước thấm trong đất (%). Ví dụ, lượng đất lấy ra ở trạng thái khô trong không khí là 10g.

Sau khi sấy khô ở nhiệt độ từ 1000-1050C, còn lại 9, 5g(b), như vậy lượng nước hao hụt sau khi sấy là 0,50g (a) Lượng nước hút ẩm không khí: W%=a/b * 100 hay 0,500/9,5 *100=5, 26%. Độ thấm nước của đất được xác định chủ yếu ngoài đồng ruộng, còn xác định trong phòng thí nghiệm là thứ yếu, có tính chất bổ sung, phân tích thêm những kết quả xác định được trong điều kiện ngoài đồng ruộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về mô hình vật lý và ứng dụng hệ phổ kế siêu cao tần trong xác định độ ẩm đất" của tác giả Võ Thị Lan Anh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Doãn Minh Chung, thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, tập trung vào việc phát triển mô hình vật lý và ứng dụng công nghệ phổ kế siêu cao tần để xác định độ ẩm trong đất. Bài viết không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp đo lường độ ẩm đất mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ hiện đại trong nông nghiệp và quản lý tài nguyên nước. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về cách thức mà công nghệ này có thể cải thiện hiệu quả trong việc quản lý đất đai và nông nghiệp bền vững.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu liên quan đến vật liệu và công nghệ, hãy khám phá thêm về Luận án tiến sĩ về cấu trúc nano vàng bạc trên silic trong nhận biết phân tử hữu cơ bằng tán xạ Raman, nơi nghiên cứu về các cấu trúc nano và ứng dụng của chúng trong phân tích hóa học. Bên cạnh đó, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận án tiến sĩ về mô hình hóa quá trình tổng hợp lignosulfonat từ dịch đen bột giấy sulfat, một nghiên cứu liên quan đến công nghệ hóa học và ứng dụng của nó trong sản xuất vật liệu. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về tổng hợp và ứng dụng vật liệu carbon hoạt tính cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về vật liệu carbon và ứng dụng của chúng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các công nghệ tiên tiến trong nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn.