Mở đầu là định nghĩa của nhà nghiên cứu nhà về công tác bảo trì AFNOR người pháp ông cho rằng công tác bảo trì là một tập hợp các hoạt động nhằm duy trì hoặc phục hồi một tài sản ở tình trạng nhất định hoặc bảo đảm một dịch vụ xác định. - Ý nghĩa của một số khái niệm từ định nghĩa này là: Tập hợp các hoạt động, tập hợp các phương tiện, các biện pháp kỹ thuật để thực hiện công tác bảo trì. - Duy trì: phòng ngừa các hư hỏng có thể xảy ra để duy trì tình trạng hoạt động của tài sản. - Phục hồi: Sửa chữa hay phục hồi trở lại trạng thái ban đầu của tài sản.
- Tài sản: Bao gồm tất cả thiết bị, dụng cụ sản xuất, dịch vu,ƒ… - Tình trạng nhất định hoặc dịch vụ xác định: Các mục tiêu được xác định và định lượng. Nghiên cứu thứ hai là của nhà khoa học BS 3811: 1984 ( Anh ) Bảo trì là tập hợp tất cả các hành động kỹ thuật và quản trị nhằm giữ cho thiết bị luôn ở, hoặc phục hồi nó về một tình trạng trong đó nó có thể thực hiện chức năng yêu cầu. Chức năng yêu cầu này có thể định nghĩa như là một tình trạng xác định nào đó. Nhà khoa học người Thụy Điển Total Productivity Development AB cho rằng 9 9 Bảo trì bao gồm tất cả các hoạt động được thực hiện nhằm giữ cho thiết bị ở một tình trạng nhất định hoặc phục hồi thiết bị về tình trạng này.
Cuối cùng là một nghiên cứu của nhà khoa học Dimitri Kececioglu (Mỹ) ông đã đưa ra quan điểm của mình về công tác bảo trì như sau: Bảo trì là bất k„ hành động nào nhằm duy trì các thiết bị không bị hư hỏng và ở một tình trạng vận hành đạt yêu cầu về mặt độ tin cậy và an toàn; và nếu chúng bị hư hỏng thì phục hồi chúng về tình trạng này. Để công việc được thực hiện tốt, máy móc hoạt động trở nên chính xác và có hiệu suất cao, tuổi thọ của thiết bị được kéo dài chúng ta không thể phủ nhận vai trò lớn từ việc bảo trì máy mang lại. Qua một số nghiên cứu về công tác bảo trì của một số nhà khoa học trên thế giới, ta có thể đưa ra một kết luận cụ thể như sau: Bảo trì là tập hợp tất cả các hoạt động kỹ thuật và quản trị có nhiệm vụ giữ cho máy móc thiết bị luôn ở tình trạng hoạt động ổn định, kéo dài tuổi thọ của các chi tiết máy. Và khi có sự cố hư hỏng xảy ra thì phải phục hồi chúng về tình trạng như cũ.
Vai trò của công tác bảo trì Ngày nay bảo trì đóng một vai trò rất quan trọng trong mọi hoạt động sản xuất, bảo trì có thể coi như một đội cứu hỏa của các thiết bị máy móc công nghiệp vì vậy vai trò chính của bảo trì là : - Phòng ngừa để tránh làm giảm những hư hỏng của máy móc ở mức thấp nhất. - Giữ cho máy móc làm việc tốt và với hiệu suất lớn nhất. - Bảo trì là làm nâng cao tuổi thọ cho thiết bị. - Chỉ số khả năng sẵn sàng và thời gian ngừng máy nhỏ nhất là những vai trò quan trọng mà bảo trì hướng tới.
Nhờ cải tiến liên tục quá trình sản xuất. - Máy móc làm việc có hiệu quả và ổn định hơn chi phí vận hành ít hơn, đồng thời làm ra sản phẩm có chất lượng cao hơn. - Tạo ra môi trường làm việc an toàn hơn. 10 10 Hiện nay do các nước đang phát triển vẫn sử dụng rất nhiều máy móc, thiết bị công nghiệp cũ và vấn đề phụ tùng của các máy móc này luôn là vấn đề được quan tâm của các doanh nghiệp, bởi các thiết bị thay thế cho các máy móc này ngày càng trở nên khó tìm hoặc nếu có tìm mua được nhưng cũng phải có giá rất cao.
Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt thì hậu quả của các hư hỏng sẽ giảm, vấn đề này đã phần nào được giải quyết. Sự phát triển của công tác bảo trì Bảo trì là một công việc gắn liền với sự phát triển cuả quá trình sản xuất công nghiệp trong nước và thế giới. Bảo trì xuất hiện kể từ khi con người biết sử dụng các loại dụng cụ vào quá trình sản xuất, đặc biệt là khi bánh xe được phát minh. Tuy nhiên công tác bảo trì chỉ được quan tâm vào giữa những năm 1950 đến những năm 1980.
Trong quá trình phát triển của mình bảo trì đã trải qua các thế hệ sau: Thế hệ thứ nhất Giai đoạn thứ nhất khi quá trình công nghiệp chưa được phát triển. Việc chế tạo và sản xuất được thực hiện bằng các máy móc còn đơn giản, thời gian ngừng máy ít ảnh hưởng đến sản xuất, do đó công việc bảo trì cũng rất đơn giản. Bảo trì không ảnh hưởng lớn về chất lượng và năng suất. Vì vậy ý thức ngăn ngừa các thiết bị hư hỏng chưa được phổ biến trong đội ngũ quản lý.
Do đó không cần thiết phải có các phương pháp bảo trì hợp lý cho các máy móc. Bảo trì lúc bấy giờ là sửa chữa các máy móc và thiết bị khi có hư hỏng xảy ra. Thế hệ thứ hai Khi chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra mọi thứ đã hòa toan thay đổi, áp lực trong thời gian chiến tranh đã làm tăng nhu cầu của các loại hàng hóa trong khi nguồn nhân lực cung cấp cho công nghiệp lại sút giảm đáng kể. Do đó cơ khí hóa đã được phát triển mạnh để bù đắp lại nguồn nhân lực bị thiếu hụt.
Vào những năm 1950, máy móc các loại đã được đưa vào sản xuất nhiều hơn và phức tạp hơn. Công nghiệp bắt đầu phụ thuộc vào chúng. Do sự phụ thuộc ngày càng tăng, thời gian ngừng máy đã được ngày càng được quan tâm nhiều hơn. Đôi khi có một câu hỏi được nêu ra là “con người kiểm 11 11 soát máy móc hay máy móc điều khiển con người”.
Nếu công tác bảo trì được thực hiện tốt trong nhà máy thì con người sẽ kiểm soát được máy móc, ngược lại máy móc hư hỏng sẽ gây khó khăn cho con người. Vì vậy đã có ý kiến cho rằng những hư hỏng của thiết bị có thể và nên được phòng ngừa, để tránh làm mất thời gian khi có những hư hỏng hay tình huống khẩn cấp xảy ra. Từ đó đã bắt đầu xuất hiện khái niệm bảo trì phòng ngừa mà mục tiêu chủ yếu là giữ cho thiết bị luôn hoạt động ở trạng thái ổn định chứ không phải sửa chữa khi có hư hỏng. Trong những năm 1960 giải pháp này chủ yếu là đại tu lại thiết bị vào những khoảng thời gian nhất định.
Chi phí bảo trì cũng đã bắt đầu gia tăng đáng kể so với chi vận hành khác. Điều này dẫn đến việc phát triển những hệ thống kiểm soát và lập kế hoạch bảo trì. Cuối cùng tổng vốn đầu tư cho tài sản cố định đã gia tăng đáng kể nên người ta bắt đầu tìm kiếm những giải pháp để có thể tăng tối đa tuổi thọ của các tài sản này. Thế hệ thứ ba Đây là thế hệ mà công tác bảo trì được quan tâm và phát triển một cách mạnh mẽ.
Từ giữa những năm 1980 khi nền công nghiệp thế giới có sự thay đổi lớn lao, những thay đổi này đòi hỏi và mong đợi ở bảo trì ngày càng nhiều hơn. 12 12 Thế hệ thứ III -Giám sát tình trạng - Khả năng sẵn sàng và đội tin cậy cao hơn - An toàn cao hơn - Chất lượng sản phẩm tốt hơn - Tuổi thọ của thiết bị dài hơn - Không cho môi trường - Hiệu quả kinh tế lớn hơn gây hại Thế hệ thứ II - Khả năng sẵn sàng của máy cao hơn Thế hệ thứ I -Tuổi thọ của thiết bị Sửa chữa khi dài hơn máy bị hư hỏng - chi phí thấp hơn Hình 1.1: Những yêu cầu đối với bảo trì qua các giai đoạn 1. Nội dung của bảo trì Hiện nay nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa quá trình sản xuất chính vì vậy máy móc đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nhiên theo thời gian làm việc tuổi thọ của các chi tiết bị giảm dần, thời gian ngừng máy tăng làm cho năng xuất lao động bị giảm xuống.
Vì vậy để giảm thời gian ngừng máy và tăng năng xuất lao động trong quá trình vận hành máy thì công tác bảo trì phải được tiến hành định k„ theo thời gian làm việc của máy, tùy theo từng giai đoạn làm việc của máy mà ta có thể áp dụng các công tác bảo trì sau: 1. Bảo trì không kế hoạch 13 13 Bảo trì không kế hoạch là công tác bảo trì được thực hiện không có kế hoạch hoặc không có thông tin trong lúc thiết bị đang hoạt động cho đến khi hư hỏng. Nếu có một hư hỏng nào đó xảy ra thì bị đó sẽ được sửa chữa hoặc thay thế. Bảo trì không kế hoạch gồm có bảo trì phục hồi và bảo trì khẩn cấp.
Trong kỹ thuật bảo trì phục hồi bao gồm hai loại chủ yếu là: bảo trì phục hồi không có kế hoạch và bảo trì phục hồi có kế hoạch. Bảo trì phục hồi a. B)o tr* ph+c h,i c- k/ ho0ch: là loại bảo trì không thể lập được kế hoạch. Một công việc được xếp vào loại bảo trì phục hồi không kế hoạch khi mà thời gian dùng cho công việc ít hơn 8 giờ.
Trong trường hợp này không thể lập kế hoạch làm việc một cách hợp lý. Nhân lực, phụ tùng và các tài liệu kỹ thuật cần thiết đối với công việc bảo trì này không thể lập kế hoạch và chuẩn bị trước khi công việc bắt đầu mà phải thực hiện đồng thới với công việc. B)o tr* ph+c h,i không k/ ho0ch: là tất cả các hoạt động bảo trì được thực hiện sau khi xảy ra đột xuất một hư hỏng nào đó để phục hồi thiết bị về tình trạng hoạt động bình thường nhằm thực hiện các chức năng yêu cầu. Bảo trì khẩn cấp Bảo trì khẩn cấp là bảo trì cần được thực hiện ngay sau khi có hư hỏng xảy ra để tránh những hậu quả nghiêm trọng tiếp theo.
Trong thực tế do thiếu tính linh hoạt và không thể kiểm soát chi phí được nên bảo trì khẩn cấp là phương án bất đắc dĩ và ít được chấp nhận. Thay vào đó có thể sử dụng các giải pháp hiệu quả và linh hoạt hơn.