Chương 1. GIỚI THIỆU CHUNG 1. Công nghệ Nano Sinh học Trong tự nhiên, các vật thể đều được cấu tạo bởi các hạt có kích thước vô cùng nhỏ, ở mức độ nanomet. Rất nhiều các hệ cấu trúc sinh học như các virut, phức hợp chất đạm và màng… có cấu trúc nano.
Công nghệ sinh học nghiên cứu vào sự phát triển và tồn tại của các dạng tế bào và mô đa chức năng ở thực vật, động vật, cũng như sự ảnh hưởng từ một tế bào sinh vật đến hoạt động của cả hệ thống sinh học. Bảng 1-1: Kích thước một số vật thể trong công nghệ nano sinh học [internet] Định nghĩa vật thể Kích thước đường kính (nm) Nguyên tử Hidro 0,1 Phân tử cấu thành bởi các nguyên tử 1 Carbon DNA (Phân tử mang thông tin di truyền) 2 Ống nano 3÷30 Chất đạm (Chất đạm hay phân tử sinh học 5÷50 của các nhóm axit amin) Hợp chất cao phân tử 10÷20 Trung thể 25 Virut 75÷100 Ty thể 500÷1000 Vi khuẩn 1000÷10000 Tế bào máu trắng 10000 Hình 1-1 mô tả tỷ lệ kích thước các vật thể trên thang đo từ 1m đến 1nm giúp hình dung trực quan hơn về tương quan độ lớn của các cấu trúc sinh học tồn tại trong tự nhiên. Với sự phát triển nhanh chóng và bao gồm nhiều lĩnh vực, công nghệ nano cho đến nay vẫn chưa có được một định nghĩa thống nhất. Theo cơ quan hàng không vũ trụ Hoa Kỳ (NASA), công nghệ nano là công nghệ chế tạo ra các cấu trúc, vật liệu, thiết bị và hệ thống chức năng với kích thước đo bằng nanometer (khoảng từ 1 đến 100nm) và khai thác ứng dụng các đặc tính độc đáo của những sản phẩm này.
Trong khi đó, tổ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 chức nanotechlonogy Initiative (NNI) lại định nghĩa: “Công nghệ Nano là bất cứ thứ gì liên quan đến các cấu trúc có kích thước nhỏ hơn 100nm”. Trong cuốn “Bionanotechnology: lessons from nature”có định nghĩa “Công nghệ nano là các thao tác và chế tạo ở quy mô nano với độ chính xác nguyên tử”. Có thể tổng kết lại, công nghệ nano là ngành công nghệ khoa học, kỹ thuật và thao tác dựa trên các hiểu biết về các quy luật, hiện tượng, tính chất của cấu trúc vật lý có kích thước đặc trưng ở thang nano để thực hiện các nhiệm vụ điện, cơ, sinh, hoá hoặc tính toán đặc biệt. Vậy, thiết bị công nghệ nano được hiểu là các cấu trúc thiệt bị có khả năng làm việc với các cấu trúc ở cấp độ nano gồm các nguyên tử, phân tử và được thiết kế chế tạo sao cho cả hệ thống thực hiện được các chức năng định trước theo nhu cầu và mục đích chế tạo.
Trên cơ sở phân loại hình học, cấu trúc nano có thể là hạt nano, sợi, dây hoặc ống nano, lớp nano hay màng mỏng nano. Về chức năng, cấu trúc nano có thể được phân thành: - Vật liệu nano như các hạt nano. - Linh kiện nano với các cảm biến nano. - Các cấu trúc nano như các phân tử chất đạm có khả năng tự lắp ráp.
Hình 1-1: Đồ hoạ tỷ lệ kích thước vật thể trên thang đo từ 1m đến 1nm. [2] Với sự giao thoa trong nghiên cứu và ứng dụng giữa công nghệ nano và công nghệ sinh học đã tạo ra sự hợp tác chưa từng có giữa các nhà khoa học vật liệu, vật lý học và sinh học, ngành công nghệ nano sinh học được ra đời.Có nhiều cách định nghĩa công nghệ sinh học nano (nanobiotechnology/ nano – biotechnology/ nanobiotech). Thuật ngữ này có thể được sử dụng để mô tả những vấn đề chung của công nghệ nano và sinh học. Công nghệ nano sinh học cũng có thể được xem là những ứng dụng công nghệ nano vào lĩnh vực nghiên cứu sinh học, tìm kiếm dược phẩm và dẫn chuyển thuốc, các vật liệu nano mới, các thiết bị chẩn đoán, trị liệu giúp loại bỏ các thể ngoại LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 lai khỏi cơ thể, sửa chữa tế bào và mô.
Theo định nghĩa của NNI: “Công nghệ nano sinh học là sự áp dụng công cụ ở kích thước nano vào hệ thống sinh học và sử dụng hệ thống sinh học làm khuôn mẫu để phát triển các sản phẩm mới cỡ nano”[internet]. Trên cơ sở công nghệ nano và công nghệ sinh học, các nguyên tử hay phân tử có thể được thiết kế và ghép lại với nhau để tạo ra một số loại linh kiện có cấu trúc nano như chip sinh học có phạm vi ứng dụng rộng rãi trong khoa học sự sống, đặc biệt trong y – dược. Hình 1-2: Phạm vi ứng dụng của công nghệ nano sinh học[3] Trên thế giới, các bài báo khoa học về công nghệ nano xuất hiện từ giữa thập kỷ 90. Từ đó đến nay, số lượng hồ sơ đăng ký bảo hộ sáng chế trong lĩnh vực công nghệ nano tăng rất mạnh từ 531 bằng sáng chế năm 1995, sau 6 năm đã có 1976 bằng sáng chế trong năm 2001 với những khoản tiền đầu tư vô cùng lớn, trong các năm 2011- 2015 đã lên tới một nghìn tỷ đô la mỹ[2].
Điều này chứng tỏ tính hấp dẫn và giá trị ứng dụng to lớn của ngành khoa học này. Phạm vi ứng dụng của công nghệ sinh học nano rất rộng, từ lĩnh vực y học, dược phẩm, sinh học, tới các ngành công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp. Trong lĩnh vực sinh học và y tế, công nghệ sinh học nano được ứng dụng để nghiên cứu bộ di truyền học, tin sinh học, tìm kiếm và sàng lọc dược phẩm, tế bào… Đối với y học, một trong những lĩnh vực ứng dụng chủ yếu của công nghệ sinh học nano, các vấn đề chính bao gồm: Tái sinh mô, nuôi cấy và tái tạo các cơ quan, các hệ thống dẫn chuyển và hướng đích dược phẩm. Đặc biệt, các hệ thống dẫn chuyển và hướng đích dược phẩm trên cơ sở công nghệ nano ngày càng được quan tâm nghiên cứu và đưa vào ứng dụng, bởi vì trên thực tế hầu hết dược phẩm không chỉ có các tác LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 dụng dược lý hữu ích mà còn có những tác dụng phụ.
Các hệ thống này bao gồm những hạt nano có chức năng điều khiển dược phẩm tác động trực tiếp và tế bào đích và không gây ảnh hưởng đến các tế bào xung quanh. Trong lĩnh vực dược phẩm, công nghệ nano sinh học cùng với ngành hóa học đã tạo ra sự phát triển mạnh mẽ của mảng tìm kiếm dược phẩm. Những triển vọng mới của công nghệ dược phẩm đã mở ra cùng với sự ra đời và phát triển của công nghệ DNA chip (DNA – phần tử mang thông tin di truyền). Chẳng hạn, trong trường hợp ung thư thể tăng sinh tế bào lympho B, hầu hết bệnh nhân ban đầu phản ứng rất tốt đối với phương pháp trị liệu chuẩn.
Sau đó, hơn một nửa những trường hợp này nhanh chóng chuyển sang tình trạng nguy kịch. Một vài năm trước đây, các nhà điều trị không có cách nào để phát hiện các bệnh nhân thuộc nhóm có nguy cơ rủi ro cao này để điều trị tích cực. Gần đây, công nghệ sinh học cho phép các nhà nghiên cứu phân biệt giữa các nhóm bệnh nhân có thể chống lại bệnh tật trong một thời gian dài và ngắn dựa trên sự khác biệt tổng thể của các hoạt động liên quan đến hàng trăm gene (trình tự của phần tử mang thông tin di truyền được mã hoá cho một phân tử có chức năng riêng biệt) trong các tế bào khối u của họ vào thời điểm chẩn đoán. Thành tựu này là cơ sở để đưa ra thử nghiệm chẩn đoán các bệnh nhân có nguy cơ cao.
Trong các ngành công nghiệp thực phẩm và nông nghiệp, công nghệ nano sinh học được ứng dụng để bảo quản thực phẩm, chế tạo các màng nhựa tổng hợp nano có thể phân hủy sinh học, trong các kỹ thuật siêu lọc… 1. Công nghệ Vi cơ điện tử - MEMS/NEMS MEMS/NEMS (Hệ thống cơ – điện kích thước micromet/Hệ thống cơ – điện kích thước nanomet) là công nghệ vi chế tạo các linh kiện điện và không điện chủ yếu dựa trên công nghệ vi chế tạo phổ biến hiện nay. Các chi tiết cơ học và linh kiện điện được tiểu hình hóa và chế tạo dựa trên một số kỹ thuật đặc biệt như: ăn mòn ướt (wet etching), ăn mòn khô (dry etching),…trên một nền vật liệu là chất bán dẫn. Với sự kế thừa của công nghệ chế tạo IC, công nghệ MEMS/NEMS cho phép chế tạo hàng loạt các sản phẩm trong một quy trình và khả năng tích hợp với cá linh kiện điện tử trên một đế vật liệu bán dẫn nhỏ.
Công nghệ MEMS/NEMS có phạm vi ứng dụng rộng lớn và được sử dụng trong cuộc sống hằng như ứng dụng trong: điện thoại di động, thiết bị cầm tay cá nhân, ô tô, thiết bị y tế,… Ngày nay, công nghệ MEMS/NEMS vẫn đang tiếp tục phát triển với các kỹ thuật mới và định hướng kết hợp nhiều lĩnh vực khác nhau như: điện tử, cơ học, sinh học, y tế, quang học,… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Thiết bị MEMS/NEMS có phương thức giao tiếp bằng cả tín hiệu điện và không điện, đồng thời tương tác với hệ thống vật lý cũng như với hệ thống điện bằng cách kết hợp xử lý tín hiệu với các bộ cảm biến. MEMS/NEMS không chỉ bao gồm các thành phần điện mả còn có các phần tử cơ học, mà một số có thể chuyển động được như: cảm biến áp suất, cảm biến gia tốc, con quay vi cơ. Các thiết bị MEMS/NEMS được thiết kế dựa trên các kỹ thuật VLSI và cấu trúc cơ khí phần cứng. Cũng giống như các IC, MEMS cũng hướng tới kích thước nhỏ hơn, tốc độ cao hơn, nhiều chức năng hơn, linh hoạt hơn và rẻ tiền hơn, hình 1-3 trình bày kích thước điển hình của linh kiện MEMS/NEMS khi so sánh với các đối tượng khác.
Hình 1-3: Thang phân chia kích thước làm việc từng lĩnh vực [internet] Những thành phần điện được cấu tạo bằng cách sử dụng công nghệ của mạch tích hợp. Những thành phần cơ học lại được cấu tạo từ công nghệ vi cơ trên tấm đế bằng vật liệu silics với các lớp cấu trúc mới khác nhau để hình thành nên những thiết bị cơ và cơ điện tử. Điểm đặc biệt và cơ bản của công nghệ MEMS/NEMS đó là tận dụng được đặc tính cơ học của vật liệu silics để tạo ra những cấu trúc cơ học chuyển động kết hợp với các yếu tố vi điện tử, điều này đã tạo ra những thế hệ sản phẩm công nghệ mới.