CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƢỜNG 1. Ý nghĩa khoa học, kinh tế - xã hội của hoạt động bảo vệ các sân chim Sự tồn tại của các sân chim (hay vƣờn chim, đảo cò.)với nguồn gen phong phú, đa dạngmang lại nhiều giá trị không chỉ về mặt bảo tồn, duy trì ĐDSH mà nó còn có nhiều giá trị kinh tế - xã hội to lớn, có thể kể đến nhƣ: Duy trì nguồn gen của các loài chim hoang dã, phục vụ cho bảo tồn, nghiên cứu, học tập; chim và các sản phẩm từ chim; nguồn lợi thủy sản tại các rừng ngập mặn trong sân chim; nguồn dinh dƣỡng lớn từ phân chim; điều hòa khí hậu… Sân chim là nguồn tài nguyên du lịch quan trọng.
Hơn nữa, do thành phần động, thực vật đa dạng trong các sân chim, vƣờn chim nên đây là nguồn tri thức quý báu cho nghiên cứu khoa học, học tập và là yếu tố giúp du lịch phát triển. Khách du lịch trong và ngoài nƣớc đến sân chim để nghiên cứu, quan sát và thƣởng ngoạn những tập đoàn chim lớn đặc biệt là ở vùng nhiệt đới. Hơn nữa thảm thực vật trong các sân chim, vƣờn chim không chỉ là nơi cƣ trú cho chim và các động vật khác mà nó còn giúp cung cấp oxy, điều hòa khí hậu, cải thiện môi trƣờng. Ngoài ra, lƣợng phân chim lớn của hàng triệu con là nguồn dinh dƣỡng quan trọng cho các loài động thực vật thủy sinh không xƣơng sống phát triển và đó lại là nguồn thức ăn quan trọng của cá, tôm và các loại hải sản khác.
Nƣớc mặt tại các sân chim, vƣờn chim có hàm lƣợng N – P – K cao, cung cấp nguồn dinh dƣỡng cho nƣớc tƣới cây trồng. Tại các khu rừng ngập mặn, khi nƣớc triều rút đi đồng thời cũng mang theo một lƣợng lớn chất dinh dƣỡng tới các vùng đất khác [4] Nhƣ vậy, có thể thấy sự tồn tại của sân chim, vƣờn chim có ý nghĩa vô cùng to lớn do đó cần có chính sách hợp lý trong quản lý và bảo tồn. Bảo tồn ĐDSH và các vấn đề môi trƣờng Bên cạnh những giá trị về kinh tế - xã hội thì sự tồn tại của sân chim, vƣờn chim cũng mang lại nhiều áp lực cho môi trƣờng xung quanh. Áp lực môi trƣờng từ các sân chim, vƣờn chim chủ yếu là do hoạt động sống của các loài chim định cƣ, làm tổ hay bay qua tại đây.
Nguồn gây ô nhiễm phát sinh từ hoạt động cƣ trú của chim nƣớc gồm có: phân chim, vi trùng, ký sinh trùng trên cơ thể và xác chim chết cũng nhƣ từ các loại thức ăn dƣ thừa. Ví dụ nhƣ các loại cò, vạc thức ăn chủ yếu của cò vạc là cá, ếch nhái và một số động vật thủy sinh khác. Tùy vào đặc điểm nguồn thức ăn, trong Nguyễn Thị Hồng Ngọc – K19 Khoa học Môi trường 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Môi trƣờng Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên phân cò vạc chứa một lƣợng lớn các chất dinh dƣỡng N, P, K với hàm lƣợng tổng số trung bình trong phân cò, vạc lần lƣợt là 1,75% (Nts), 2% (P2O5), 1,25% (K2O). Bình quân một con cò, vạc thải ra khoảng 10kg phân/năm.
Nếu mỗi vƣờn chim, sân chim có từ vài nghìn đến vài vạn, thậm chí hành chục vạn cá thể chim thì lƣợng phân và chất dinh dƣỡng N, P, K mà chúng thải ra hàng năm là một con số không nhỏ. Phân chim đọng trên lá cây gây hoại tử lá làm giảm khả năng quang hợp của cây, gây rụng lá và chết cây. Khi phân rơi xuống đất, sự phân hủy trong điều kiện hiếu khí các chất hữu cơ có trong phân đã tạo ra nhiều CO2 và các axit hữu cơ làm chua đất, trong điều kiện yếm khí các chất hữu cơ sẽ tạo thành nhiều chất độc (H 2S, CH4,…) gây độc cho cây, cản trở quá trình sinh trƣởng, phát triển của cây thậm chí gây chết cây. Đây là nguy cơ ảnh hƣởng đến sự bảo tồn và phát triển của các sân chim, vƣờn chim.
Sự phân hủy các hợp chất hữu cơ từ phân chim và xác chim chết tạo ra các chất khí nhƣ NH3, H2S, CH3SH và CH3(CH2)3SH có mùi hôi thối, ảnh hƣởng tới chất lƣợng môi trƣờng không khí xung quanh tại nơi có sân chim, vƣờn chim. Bên cạnh đó, các loài vi sinh vật cũng nhƣ kí sinh trùng trên cơ thể chim có thể lây truyền dịch bệnh không những cho các gia cầm và thủy cầm mà còn cho con ngƣời. Ngoài ra, tiếng ồn do chim phát ra, nhất là vào mùa sinh sản cũng gây nên sự khó chịu cho ngƣời dân sống gần khu sân chim, vƣờn chim. Hàm lƣợng dinh dƣỡng cao trong phân chim làm suy giảm chất lƣợng nƣớc tại nơi có sân chim, vƣờn chim.
Chất dinh dƣỡng bị dòng nƣớc mƣa rửa trôi xuống các nguồn nƣớc mặt làm tăng nguy cơ phú dƣỡng, ảnh hƣởng tới tính đa dạng và sự tồn tại của hệ sinh thái. Bên cạnh đó là hậu quả của việc sử dụng thuốc diệt cỏ, thuốc trừ sâu phổ biến của ngƣời dân tại các cánh đồng lúa nƣớc trong vùng –nơi chim kiếm ăn (thƣờng cách xa Vƣờn Chim trung bình khoảng 3 – 5 cây số). Các yếu tố ảnh hƣởng đến Quản lý môi trƣờng đối với những loại “tài nguyên dùng chung” Một số loại tài nguyên trong những lĩnh vực nhƣ quản lý tài nguyên ven biển, quản lý và phát triển rừng ngập mặn, phát triển nông thôn, quản lý nghề cá, ĐDSH. đƣợc coi là những “tài nguyên dùng chung” -common pool resource “CPR”.
Đối với các loại tài nguyên này thì hình thức quản lý phổ biến đang đƣợc áp dụng ở Việt Nam và Thế giới là quản lý dựa vào cộng đồng. Đây đƣợc xem là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho quản lý Nhà nƣớc hiện nay. Ngoài ra, hiện nay trên Thế giới và Việt Nam đang có phƣơng thức quản lý môi trƣờng mới đó là phƣơng thức đồng quản lý (ĐQL). Theo Bộ Thuỷ sản (2005) khái niệm ĐQL đƣợc phát biểu nhƣ sau: “ĐQL là quá trình quản lý có sự tham gia Nguyễn Thị Hồng Ngọc – K19 Khoa học Môi trường 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Môi trƣờng Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên của cộng đồng địa phƣơng và các bên liên quan khác thống nhất chia sẻ quyền và trách nhiệm trong sử dụng tài nguyên một cách bền vững”.
Do đó, phƣơng thức ĐQL có những quy định về quản lý nguồn lợi đƣợc tuân thủ tốt hơn, giảm thiểu những kiểu khai thác tận diệt, giảm ô nhiễm môi trƣờng và góp phần cải thiện thu nhập cho ngƣời dân. Tuy nhiên cũng có những địa phƣơng do chƣa hiểu đúng về bản chất và cách tiếp cận ĐQL nên việc triển khai thực hiện ĐQL chƣa hiệu quả. Tính hợp pháp của mô hình chƣa cao, thiếu văn bản quy định của chính quyền về giao quyền, phân định quyền sử dụng và ranh giới quản lý vùng nƣớc hoặc đã có nhƣng chƣa rõ ràng, chƣa có văn bản chính thức của chính quyền địa phƣơng để phê chuẩn các quy chế, cam kết việc tham gia thực hiện mô hình ĐQL, đã ảnh hƣởng nhiều đến các hoạt động và hiệu quả mô hình. Mức độ phối hợp giữa chính quyền, cộng đồng và các bên liên quan trong ĐQL chƣa chặt chẽ.
Cán bộ tổ chức cộng đồng tham gia với tâm lý “đi làm dự án” hơn là một công việc thƣờng xuyên. Cách tổ chức cộng đồng chƣa thống nhất và liên tục, còn nặng về hình thức thành lập các ban bệ hơn là triển khai cụ thể các hoạt động cộng đồng, ảnh hƣởng đến sự thành công của mô hình nên chƣa có sự chuyển biến nổi bật về môi trƣờng, nguồn lợi tại một số nơi thực hiện mô hình. Do đó, tính bền vững và khả năng nhân rộng của mô hình chƣa cao. Dựa vào các nhận định và những bài học kinh nghiệm qua thực tế áp dụng ĐQL của Thế giới và Việt Nam, cũng nhƣ dù đứng ở góc nhìn nào đối với hệ thống tài nguyên có nhiều đối tƣợng cùng sử dụng và hƣởng lợi rất phức tạp này đều cần sự đồng tình và định hƣớng phối kết hợp sự tham gia giữa ngƣời hƣởng lợi với Nhà nƣớc và các bên liên quan, cùng chia sẻ trách nhiệm và duy trì lợi ích hợp lý của các thành phần cộng đồng theo hƣớng Nhà nƣớc và nhân dân cùng làm, cùng hƣởng lợi để quản lý hệ thống này hiệu quả hơn[15].
Do đó để đạt hiệu quả trong QLMT đối với các loại “tài nguyên dùng chung” thì cần xác định rõ phạm vi quản lý, đối tƣợng đƣợc quan tâm quản lý, các thành phần sẽ tham gia ĐQL. Phải nâng cao nhận thức về văn hoá xã hội, kinh tế chính trị, môi trƣờng sinh thái, nguồn lợi và nâng cao năng lực quản lý cho các bên tham gia ĐQL về phƣơng pháp xây dựng quy chế, kế hoạch quản lý; nhấn mạnh kiến thức về quản lý phát triển bền vững cũng nhƣ về các vấn đề liên quan đến bản chất ĐQL cho các bên trực tiếp và gián tiếp tham gia quản lý kể cả cộng đồng. Lựa chọn hạt nhân quản lý là ngƣời nòng cốt trong cộng đồng, có năng lực tổ chức các hoạt động cộng đồng; đồng thời là tấm gƣơng tốt để động viên, lôi kéo cộng đồng cùng thực hiện ĐQL. Nguyễn Thị Hồng Ngọc – K19 Khoa học Môi trường 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khoa Môi trƣờng Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên Xây dựng cơ chế ĐQL dựa trên tiêu chí đảm bảo sự công bằng quyền lợi để khuyến khích các bên liên quan tham gia, đặc biệt là cộng đồng.
Chính quyền tham gia tƣ vấn và phê chuẩn, hỗ trợ khi cần thiết, khi cộng đồng yêu cầu. Cộng đồng chỉ đồng thuận thực thi tốt một quy chế phân chia rõ ràng vai trò trách nhiệm và lợi ích của các bên liên quan và cộng đồng. Cần phải tìm kiếm và sử dụng tốt nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế trong việc nâng cao nhận thức, nghiên cứu, thực hiện và nhân rộng mô hình hiệu quả hơn. Tuy nhiên, cần đảm bảo sự bền vững của mô hình sau khi hỗ trợ kết thúc.
Quy chế quản lý của mô hình phải phù hợp với điều kiện của địa phƣơng, nhƣng không đƣợc trái với các quy định của pháp luật hiện hành và phải đƣợc sự nhất trí hỗ trợ của chính quyền nhất là chính quyền địa phƣơng trong việc phê duyệt các quyết định. Giải quyết các vấn đề xử phạt nhƣng không can thiệp quá sâu vào các hoạt động quản lý của cộng đồng.