Tổng quan luận án
Đề tài luận án tiến sĩ "Các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Lê Thị Cẩm Hồng, thuộc chuyên ngành Kế toán (Mã số: 9340301), khóa 2015.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công tại các quốc gia đang phát triển nhằm ngăn chặn lãng phí, thất thoát và nâng cao hiệu quả chi tiêu ngân sách nhà nước (Chan, 2003; Delavallade, 2006; Ehsein, 2014; Ouda, 2003). Tại Việt Nam, quá trình phân cấp quản lý tài chính diễn ra nhanh chóng khi chính quyền địa phương quản lý khoảng 55% tổng chi tiêu ngân sách cả nước, trong đó chi cho y tế chiếm 80% và giáo dục chiếm 85% (Báo cáo đánh giá chi tiêu công giữa Chính phủ Việt Nam và Ngân hàng Thế giới, 2017). Tuy nhiên, tính minh bạch và trách nhiệm giải trình chưa tương xứng với tốc độ phân cấp.
Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương đổi mới công tác lập và phân bổ ngân sách theo hướng gắn với kết quả hoạt động, tiêu biểu như Chiến lược tài chính đến năm 2020 (Quyết định 450/QĐ-TTg năm 2012), Quyết định 432/QĐ-TTg năm 2003, Thông tư 55/TT-BTC năm 2008 về thí điểm kế hoạch tài chính và chi tiêu trung hạn tại 6 Bộ và một số địa phương, Luật Ngân sách Nhà nước số 83/2015/QH13, Nghị định 16/2015/NĐ-CP, Nghị định 163/2016/NĐ-CP, Nghị quyết 19-NQ/TW năm 2017 và Thông tư 107/2017/TT-BTC về chế độ kế toán hành chính sự nghiệp theo cơ sở dồn tích. Dù vậy, theo đánh giá của Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội tại phiên họp thứ 5 năm 2016, việc áp dụng mô hình lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động (Performance-Based Budgeting – PBB) tại các đơn vị sự nghiệp công lập vẫn chưa được triển khai rộng rãi hoặc còn mang tính chất cào bằng. Dữ liệu khảo sát thực tế của tác giả trên 170 đơn vị sự nghiệp công lập cho thấy chỉ có 22% (37 đơn vị) áp dụng PBB và 13 đơn vị kết hợp PBB với mô hình truyền thống.
| Tiêu chí phân loại |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
| Lĩnh vực hoạt động |
|
| - Giáo dục |
61,7% |
| - Y tế |
19,3% |
| - Văn hóa thể thao |
2,3% |
| - Thông tin truyền thông |
2,0% |
| - Lĩnh vực khác |
14,7% |
| Tình hình tự chủ tài chính |
|
| - Ngân sách nhà nước đảm bảo toàn bộ chi hoạt động thường xuyên |
70,2% |
| - Tự đảm bảo một phần chi thường xuyên |
15,5% |
| - Tự chủ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP |
10,8% |
| - Tự đảm bảo toàn bộ chi thường xuyên và chi đầu tư (hoặc vận dụng như doanh nghiệp) |
< 4,0% |
Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2017 của Tổng cục Thống kê trong luận án
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Mục tiêu cụ thể gồm:
- Xác định các nhân tố tác động; điều chỉnh và bổ sung thang đo để đo lường các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập trong bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam.
- Kiểm định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
Câu hỏi nghiên cứu được xác định tương ứng:
- Nhân tố nào tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam? Các nhân tố được đo lường bằng những thang đo như thế nào?
- Mức độ tác động của các nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Đối tượng phân tích và khảo sát là cá nhân người thực hiện lập dự toán tại các phòng tài chính – kế toán (chủ yếu là trưởng hoặc phó phòng). Về phạm vi không gian, nghiên cứu khảo sát tập trung tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận khu vực miền Tây (Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Nha Trang, Nghệ An...), ưu tiên hai ngành y tế và giáo dục do chiếm trên 80% tổng số đơn vị sự nghiệp công lập.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án thực hiện tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu quốc tế và trong nước liên quan đến việc áp dụng mô hình PBB và các nhân tố thúc đẩy việc chấp nhận đổi mới quản lý tài chính công.
Về nghiên cứu quốc tế, tác giả phân loại theo các nhóm chủ đề:
- Kinh nghiệm áp dụng PBB tại các quốc gia: Carlin và Guthrie (2001) nghiên cứu tại Úc và New Zealand chỉ ra rào cản về năng lực của người thực hiện và sự thiếu hụt kiến thức đo lường kết quả hoạt động; Lee và Wang (2009) phân tích tại Hoa Kỳ, Đài Loan, Trung Quốc; Syukri (2005) và Bawono (2015) nghiên cứu tại Indonesia chỉ ra tầm quan trọng của khung pháp lý và nhận thức về lợi thế tương đối của PBB; Talebnia và cộng sự (2012), A. Shah và Shen (2007) tổng hợp điều kiện áp dụng PBB tại các nước phát triển và đang phát triển; Mauro, Cinquini và Grossi (2017) hệ thống hóa các giai đoạn phát triển của PBB trong khu vực công.
- Nghiên cứu về chấp nhận đổi mới hệ thống thông tin và kỹ thuật kế toán quản trị: Premkumar và Roberts (1999), Brown và cộng sự (2003) khẳng định tác động của nhận thức về lợi thế tương đối; Adler, Everett và Waldron (2000) phát hiện các rào cản về nhân lực và chi phí chuyển đổi tại New Zealand; Julnes và Holzer (2001) nghiên cứu việc sử dụng thông tin kết quả hoạt động dựa trên lý thuyết hợp lý và công nghệ; Kim và Kankanhalli (2009) tích hợp lý thuyết chấp nhận công nghệ và lý thuyết thiên vị nguyên trạng, chứng minh vai trò trung gian của chi phí chuyển đổi; Naranjo-Gil (2009) phân tích tác động của đổi mới quản lý đến kết quả hoạt động bằng kỹ thuật PLS-SEM.
- Nghiên cứu về các nhân tố tác động tại chính quyền địa phương và đơn vị công: Andrews (2004) đề xuất khung "không gian cải cách" gồm thẩm quyền, chấp nhận và khả năng; Grizzle và Pettijohn (2002) tại Florida; Jordan và Hackbart (2005); Kluvers (1999) tại Victoria (Úc); Niu, Ho và Ma (2006) tại Quảng Đông (Trung Quốc); Y. Lu (2007) tại Georgia (Hoa Kỳ); Erkutlu và cộng sự (2017) tại Thổ Nhĩ Kỳ; Ehsein (2014) tại Libya; Aliabadi và cộng sự (2019), Naseri và cộng sự (2014), Barati và Gelard (2016), Saeidasefzadeh và cộng sự (2014), Abdollahifar và Ooshaksaraie (2016) tại Iran.
Về nghiên cứu trong nước, tác giả điểm lại các công trình tiêu biểu: Nguyễn Đức Thanh (2004) nghiên cứu hoàn thiện phương pháp lập dự toán ngân sách nhà nước; Trần Thị Thanh Hương (2007) nghiên cứu phương pháp lập dự toán theo kết quả đầu ra; Nguyễn Thị Minh (2008) đánh giá đổi mới quản lý chi ngân sách; Quãng Thị Mỹ Yến (2019) nghiên cứu lập ngân sách trung hạn theo hiệu quả hoạt động tại Cao đẳng Cộng đồng Đồng Tháp; Võ Thế Vỹ (2020) nghiên cứu lập dự toán thu ngân sách trung hạn tại Đồng Nai; Đặng Thái Hùng (2007), Mai Vinh (2007) và Đào Thị Bích Hạnh (2007) phân tích vai trò của chuẩn mực kế toán công quốc tế (IPSAS) và kế toán dồn tích đối với việc cung cấp thông tin phục vụ lập dự toán theo kết quả đầu ra.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án xác định:
- Khoảng trống quốc tế: Phần lớn các nghiên cứu tập trung ở cấp độ quốc gia, liên bang hoặc chính quyền địa phương; số lượng công trình nghiên cứu tại cấp độ đơn vị sự nghiệp công lập còn hạn chế. Đặc biệt, rất ít nghiên cứu tiếp cận dưới góc độ hành vi của cá nhân người trực tiếp lập dự toán.
- Khoảng trống trong nước: Các nghiên cứu tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào cải cách kế toán công tổng thể hoặc quản lý thu chi ngân sách cấp nhà nước. Chưa có công trình nào xây dựng và kiểm định mô hình các nhân tố tác động đến hành vi áp dụng mô hình PBB của người lập dự toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng cách tiếp cận đa lý thuyết nhằm giải thích toàn diện các nhân tố tác động đến hành vi áp dụng PBB:
- Lý thuyết hành vi dự định (Theory of Planned Behavior – TPB) (Ajzen, 1991; Taylor & Todd, 1995): Giải thích vai trò của nhận thức năng lực bản thân đối với thay đổi và sự hỗ trợ của tổ chức.
- Lý thuyết khuếch tán đổi mới (Theory of Diffusion of Innovation) (Rogers, 1983): Giải thích tác động của nhận thức về lợi thế tương đối của mô hình dự toán mới.
- Lý thuyết thiên vị nguyên trạng (Status Quo Bias Theory – SQB) (Kim & Kankanhalli, 2009): Giải thích các rào cản nhận thức và chi phí chuyển đổi khiến cá nhân duy trì phương thức lập dự toán truyền thống.
- Lý thuyết xã hội học thể chế mới (New Institutional Sociology – NIS) (Bawono, 2015; DiMaggio & Powell, 1983): Giải thích các yếu tố thể chế gồm thẩm quyền áp dụng và khả năng áp dụng của thể chế.
| Quốc gia / Tổ chức |
Thuật ngữ PBB sử dụng |
Nguồn tài liệu |
| Hoa Kỳ |
Performance Based Budgeting (PBB) |
A. Shah & Shen (2007) |
| Úc |
Output Based Budgeting (OBB) / Output Based Management (OBM) |
Western Australia Treasury (1996b); Queensland Treasury (1999) |
| Thụy Điển |
Performance Budgeting (PB) |
Swedish Ministry of Finance (2000) |
| Vương quốc Anh |
Resource Accounting and Budgeting (RAB) |
United Kingdom Her Majesty's Treasury (2001) |
| New Zealand |
Output Budgeting (OB) |
New Zealand Treasury (1996) |
| Liên Hiệp Quốc |
Results-Based Budgeting (RBB) |
United Nations (1998); Abraszewski và cộng sự (1999) |
Nguồn: Tổng hợp từ bảng thống kê thuật ngữ của Vatjanapukka (2005) trong luận án
Mô hình PBB trong luận án được định nghĩa theo Mauro và cộng sự (2017) là mô hình về quá trình thu thập, soạn lập dự toán dựa vào cơ sở tiếp cận những thông tin về kết quả hoạt động để phân bổ và đánh giá việc sử dụng nguồn lực tài chính nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Khái niệm kết quả hoạt động được đánh giá qua 3 tiêu chí: tính kinh tế, tính hiệu quả và tính hiệu lực (Van Helden & Reichard, 2013).
Quy trình nghiên cứu hỗn hợp gắn kết được thực hiện qua hai giai đoạn theo Churchill Jr (1979):
- Nghiên cứu sơ bộ: Gồm nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia để hiệu chỉnh mô hình và thang đo) và nghiên cứu định lượng sơ bộ trên mẫu khảo sát N = 80 người lập dự toán, sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để đánh giá độ tin cậy Cronbach's Alpha và phân tích nhân tố khám phá (EFA).
- Nghiên cứu chính thức: Thực hiện bằng phương pháp định lượng thông qua bảng câu hỏi chi tiết với quy mô mẫu N = 189. Dữ liệu được xử lý bằng kỹ thuật mô hình hóa cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS 3. Nghiên cứu thực hiện kiểm định sai lệch do phương pháp (CMV), đánh giá mô hình đo lường (độ tin cậy thang đo, chỉ số HTMT), đánh giá mô hình cấu trúc (đa cộng tuyến VIF, hệ số xác định $R^2$, mức độ tác động $f^2$, năng lực dự báo $Q^2$, quy mô $q^2$) và kiểm định vai trò trung gian của chi phí chuyển đổi.
Nội dung chính theo từng chương
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam về mô hình PBB và các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình này. Tác giả phân tích các nghiên cứu theo cấp độ quản lý (quốc gia, chính quyền địa phương, đơn vị sự nghiệp), đồng thời đánh giá cơ sở pháp lý và thực trạng hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập tại Việt Nam. Qua đó, chương này xác định rõ các khoảng trống nghiên cứu về mặt lý thuyết và thực tiễn, làm rõ tính cấp thiết của việc nghiên cứu hành vi chấp nhận đổi mới phương thức lập dự toán của cá nhân người lập dự toán.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
Chương 2 trình bày các khái niệm nền tảng về khu vực công, dự toán ngân sách nhà nước, dự toán ngân sách tại đơn vị công và mô hình PBB. Chương này làm rõ các yếu tố cấu thành của PBB, ưu nhược điểm của mô hình và phân tích 4 lý thuyết nền tảng: Lý thuyết hành vi dự định (TPB), Lý thuyết khuếch tán đổi mới (DOI), Lý thuyết thiên vị nguyên trạng (SQB) và Lý thuyết xã hội học thể chế mới (NIS). Trên cơ sở đó, tác giả định nghĩa và làm rõ nội hàm của các khái niệm nghiên cứu gồm: việc áp dụng PBB, nhận thức về lợi thế tương đối của PBB, rào cản, năng lực của bản thân đối với thay đổi, sự hỗ trợ của tổ chức, thẩm quyền áp dụng và khả năng áp dụng của thể chế.
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Chương 3 xây dựng khung nghiên cứu, phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu gồm biến phụ thuộc, các biến độc lập, biến trung gian và biến kiểm soát. Chương này chi tiết hóa quy trình nghiên cứu hai giai đoạn: xây dựng thang đo sơ bộ từ tổng quan tài liệu; phỏng vấn chuyên gia định tính; khảo sát thử nghiệm N = 80 để phân tích Cronbach's Alpha và EFA trên SPSS 20.0; và thiết kế khảo sát chính thức với cỡ mẫu N = 189 để phân tích mô hình PLS-SEM trên phần mềm SmartPLS 3.
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN
Chương 4 báo cáo kết quả nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức. Trong nghiên cứu chính thức, tác giả trình bày thống kê mô tả mẫu, kiểm định hiện tượng sai lệch do phương pháp chung (CMV), đánh giá tiêu chí HTMT và kiểm định mô hình đo lường điều chỉnh. Tiếp theo, kết quả đánh giá mô hình cấu trúc được phân tích chi tiết qua các chỉ số: hệ số đa cộng tuyến VIF, hệ số xác định $R^2$, quy mô tác động $f^2$, năng lực dự báo $Q^2$, hệ số $q^2$, và phân tích vai trò trung gian của chi phí chuyển đổi (SC) trong mối quan hệ giữa năng lực bản thân đối với thay đổi (SEC), sự hỗ trợ của tổ chức (OS) với việc áp dụng mô hình PBB (RD). Chương này dành phần dung lượng lớn để bàn luận về các giả thuyết được chấp nhận và các giả thuyết bị bác bỏ dựa trên sự đối sánh với các lý thuyết nền và các nghiên cứu thực nghiệm trước đây.
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý
Chương 5 tóm tắt các kết quả cốt lõi từ Chương 4, từ đó đưa ra các hàm ý về mặt lý thuyết và hàm ý thực tiễn đối với việc áp dụng PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Các khuyến nghị hướng tới hai nhóm đối tượng: cơ quan quản lý nhà nước (hoàn thiện thể chế, thẩm quyền, chuẩn mực kế toán) và thủ trưởng các đơn vị sự nghiệp công lập (gia tăng nhận thức, tăng cường sự hỗ trợ của tổ chức, giảm thiểu chi phí chuyển đổi cho nhân viên). Cuối cùng, chương nêu rõ các hạn chế của đề tài về quy mô không gian mẫu và gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo.
Kết quả và những đóng góp mới
Kết quả xử lý dữ liệu định lượng chính thức bằng PLS-SEM trên SmartPLS 3 chỉ ra 4 nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam:
- Nhận thức về lợi thế tương đối của PBB.
- Sự hỗ trợ của tổ chức (OS).
- Thẩm quyền áp dụng của thể chế.
- Chi phí chuyển đổi (SC) (đóng vai trò trung gian trong mô hình).
| Nhóm đóng góp |
Chi tiết đóng góp được luận án tự xác định |
| Đóng góp về lý luận |
- Khẳng định sự phù hợp của việc vận dụng cách tiếp cận đa lý thuyết (kết hợp TPB, DOI, SQB và NIS) để giải thích hành vi thay đổi phương thức lập dự toán của cá nhân người thực hiện. - Xác định mô hình các nhân tố tác động và đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến việc áp dụng mô hình PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. - Cung cấp và hoàn thiện hệ thống thang đo các khái niệm nghiên cứu trong bối cảnh kế toán công tại Việt Nam. - Bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho việc vận dụng các lý thuyết nền trong nghiên cứu chấp nhận đổi mới kế toán khu vực công. |
| Đóng góp về thực tiễn |
- Cung cấp căn cứ khoa học cho các cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng chính sách, hoàn thiện khung pháp lý nhằm nâng cao thẩm quyền và khả năng áp dụng của thể chế, thúc đẩy nhận thức về PBB. - Cung cấp cơ sở cho các nhà quản lý, thủ trưởng đơn vị sự nghiệp công lập trong việc ban hành chính sách hỗ trợ nội bộ, gia tăng nhận thức của nhân viên và thực hiện các biện pháp giảm thiểu chi phí chuyển đổi cho người lập dự toán. |
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, luận án xác định phạm vi khảo sát thực tế chưa phủ rộng trên toàn quốc như tên đề tài do điều kiện khách quan và giới hạn về thời gian. Dữ liệu khảo sát mới tập trung chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh lân cận khu vực miền Tây (như Tiền Giang, Vĩnh Long, Cà Mau, Kiên Giang, Tây Ninh, Nha Trang, Nghệ An...), trong đó tập trung vào hai ngành giáo dục và y tế.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo, văn bản luận án định hướng mở rộng phạm vi khảo sát sang các địa bàn khác trên cả nước, kiểm tra mô hình đối với các loại hình đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các ngành nghề khác ngoài y tế và giáo dục, cũng như tiếp tục kiểm chứng các mối quan hệ tác động bổ sung khi khung thể chế kế toán công tại Việt Nam tiếp tục hoàn thiện.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Kế toán, Tài chính công: Luận án cung cấp khung phân tích đa lý thuyết kết hợp giữa TPB, DOI, SQB và NIS; bộ thang đo chuẩn hóa cho các khái niệm PBB đã qua kiểm định Cronbach's Alpha, EFA và PLS-SEM; cùng hệ thống tổng quan tài liệu chi tiết về đổi mới kế toán khu vực công.
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Tài chính, Sở Tài chính các địa phương): Chương 1 và Chương 5 cung cấp luận cứ thực tiễn về thực trạng tự chủ tài chính và các rào cản thể chế, hỗ trợ quá trình soạn thảo văn bản hướng dẫn Luật Ngân sách Nhà nước và lộ trình triển khai lập dự toán theo kết quả đầu ra.
- Thủ trưởng và người làm công tác tài chính – kế toán tại các đơn vị sự nghiệp công lập: Nội dung Chương 4 và Chương 5 chỉ rõ tầm quan trọng của sự hỗ trợ từ ban lãnh đạo đơn vị và giải pháp xử lý chi phí chuyển đổi, giúp đơn vị xây dựng lộ trình chuyển đổi từ phương thức lập dự toán truyền thống sang PBB một cách hiệu quả.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng các lý thuyết nền tảng nào để xây dựng khung nghiên cứu?
Luận án kết hợp 4 lý thuyết nền tảng gồm: Lý thuyết hành vi dự định (TPB) của Ajzen (1991), Lý thuyết khuếch tán đổi mới (DOI) của Rogers (1983), Lý thuyết thiên vị nguyên trạng (SQB) theo hướng tiếp cận của Kim và Kankanhalli (2009), và Lý thuyết xã hội học thể chế mới (NIS).
2. Quy mô mẫu và kỹ thuật phân tích định lượng chính thức trong luận án là gì?
Nghiên cứu chính thức sử dụng mẫu khảo sát gồm 189 cá nhân là người lập dự toán (trưởng/phó phòng tài chính – kế toán) tại các đơn vị sự nghiệp công lập, xử lý dữ liệu bằng kỹ thuật mô hình hóa cấu trúc tuyến tính bình phương bé nhất từng phần (PLS-SEM) trên phần mềm SmartPLS 3.
3. Kết quả nghiên cứu chính thức xác định những nhân tố nào tác động đến việc áp dụng mô hình PBB?
Mô hình cấu trúc chính thức xác nhận 4 nhân tố tác động gồm: Nhận thức về lợi thế tương đối của PBB, Sự hỗ trợ của tổ chức, Thẩm quyền áp dụng và Chi phí chuyển đổi (đóng vai trò trung gian).
4. Dữ liệu thực tế về tỷ lệ áp dụng PBB tại các đơn vị sự nghiệp công lập Việt Nam được luận án ghi nhận như thế nào?
Theo kết quả khảo sát sơ bộ của tác giả trên 170 đơn vị sự nghiệp công lập, chỉ có 22% (37 đơn vị) áp dụng mô hình PBB và 13 đơn vị kết hợp PBB với mô hình truyền thống; phần lớn các đơn vị còn lại vẫn lập dự toán theo phương thức truyền thống.
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Lê Thị Cẩm Hồng đã giải quyết mục tiêu xác định và đo lường các nhân tố tác động đến việc áp dụng mô hình lập dự toán dựa trên kết quả hoạt động tại các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp kỹ thuật PLS-SEM trên mẫu 189 người lập dự toán, đề tài đã khẳng định vai trò của nhận thức về lợi thế tương đối, sự hỗ trợ của tổ chức, thẩm quyền áp dụng và chi phí chuyển đổi. Kết quả nghiên cứu vừa bổ sung bằng chứng thực nghiệm cho cách tiếp cận đa lý thuyết trong kế toán khu vực công, vừa cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý và thủ trưởng đơn vị xây dựng chính sách thúc đẩy áp dụng PBB hiệu quả.