ĐẶT VẤN ĐỀ Xây dựng chiến lược phát triển y tế của một quốc gia, một địa phương hay một đơn vị phải căn cứ trên nhiều phương diện. Đặc biệt là điều kiện kinh tế xã hội, nguồn nhân lực và mô hình bệnh tật của mỗi quốc gia, địa phương hay của từng đơn vị. Trong đó, mô hình bệnh tật của mỗi nước, mỗi địa phương phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế - xã hội của từng nước, từng địa phương. Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội mô hình bệnh tật có khuynh hướng chuyển dịch từ bệnh lý lây nhiễm sang bệnh lý không lây nhiễm [23].
Mô hình bệnh tật ở các nước trên thế giới hiện nay có 3 hình thức: ở các nước kém phát triển thì các bệnh lý về nhiễm trùng chiếm tỉ lệ cao; ở các nước đang phát triển thì bệnh nhiễm trùng và bệnh lý không nhiễm trùng có tỉ lệ đan xen; ở các nước phát triển thì mô hình bệnh tật chủ yếu là các bệnh lý không lây nhiễm như: tim mạch, bệnh chuyển hóa và bệnh lý lão khoa [36]. Mô hình bệnh tật ở Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển đổi từ bệnh lý lây nhiễm sang bệnh lý không lây nhiễm, với diễn biến phức tạp, cùng lúc phải đối mặt với 3 gánh nặng về vấn đề bệnh tật: đó là bệnh lý không lây nhiễm chiếm 70%; 16% là từ tai nạn, chấn thương; 14% còn lại là do các bệnh truyền nhiễm, chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em [15]. Mặc dù, hệ thống y tế ở nước ta, trong thời gian qua, đã được quan tâm đầu tư từ Trung ương đến địa phương nhiều hơn trước, hệ thống dự phòng và điều trị ngày càng phát triển, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ngày càng cao của người dân, số lượng và chất lượng nuồn nhân lực còn thiếu và chưa đồng đều đặc biệt là ở tuyến y tế cơ sở, còn có sự chênh lệch đáng kể về chất lượng khám và điều trị bệnh ở tuyến trên và tuyến dưới. Công tác chuyển tuyến giữa các cơ sở khám chữa bệnh cũng cần được quan tâm, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đảm bảo nhu cầu chăm sóc sức 2 khỏe của người dân, đồng thời tránh gây lãng phí cho xã hội, quá tải bệnh viện tuyến trên, đặc biệt là quản lý và cân đối quỹ BHYT của tuyến huyện.
Trà Ôn là huyện vùng sâu của tỉnh Vĩnh Long, hệ thống y tế Huyện gồm có: Trung tâm y tế 2 chức năng, Phòng y tế, 01 phòng khám đa khoa khu vực và 14 Trạm y tế xã, thị trấn. Trung tâm y tế huyện đã được đầu tư xây dựng cơ bản và trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị y tế như: máy sinh hóa, huyết học tự động, máy siêu âm màu, máy nội soi dạ dày tá tràng, dụng cụ tiểu phẫu thuật, các dụng cụ y tế chuyên khoa… Trong thời gian qua, tại TTYT chưa có thống kê nào đánh giá tổng quát tình hình bệnh tật, tử vong và chuyển tuyến của đơn vị. Để có một cái nhìn tổng quát trên cơ sở thống kê về bệnh nhân đến nhập viện để được điều trị nội trú cũng như các bệnh nhân đã được chuyển lên tuyến trên. Từ đó làm cơ sở để đơn vị xây dựng kế hoạch hoạt động, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển chuyên môn, mua sắm trang thiết bị y tế phù hợp với nhu cầu.
Xuất phát từ ý tưởng nêu trên chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu mô hình bệnh tật, tử vong, chuyển tuyến theo ICD 10 trong 3 năm 2015 – 2017 và đánh giá kết quả giảm tỉ lệ chuyển tuyến bằng can thiệp đào tạo chuyên môn ngắn hạn tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn năm 2018-2019” với các mục tiêu cụ thể như sau: 1. Xác định tỉ lệ bệnh tật, tử vong phân loại theo chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh thường gặp theo ICD 10 ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn từ năm 2015 đến 2017. Xác định tỉ lệ bệnh tật chuyển tuyến phân loại theo chương, 10 nhóm bệnh và 10 bệnh thường gặp theo ICD 10 ở bệnh nhân điều trị nội trú tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn từ năm 2015 đến 2017. Đánh giá kết quả giảm tỉ lệ chuyển tuyến qua giải pháp tăng cường đào tạo chuyên môn ngắn hạn cho cán bộ y tế tại Trung tâm y tế huyện Trà Ôn năm 2018-2019.
3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm về sức khỏe, bệnh tật và mô hình bệnh tật So với nhiều năm trước đây, mô hình bệnh tật ở nước ta có nhiều thay đổi, các bệnh không lây nhiễm ngày càng gia tăng, phản ánh những hậu quả của tình trạng ô nhiễm môi trường, tình trạng đô thị hóa, công nghiệp hóa, giao thông quá tải, biến đổi khí hậu. Cùng với việc tuổi thọ trung bình của người Việt Nam ngày càng tăng dẫn đến bệnh lý ở người cao tuổi ngày càng chiếm tỉ lệ nhiều. Bên cạnh đó, xu hướng hội nhập, mở cửa, toàn cầu hóa của nền kinh tế làm cho nguy cơ lan truyền bệnh tật từ vùng này sang vùng khác, nước này sang nước khác dễ dàng hơn [4].
Khái niệm về sức khỏe - Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội, chứ không chỉ bao gồm tình trạng không có bệnh hay thương tật. - Trong Nghị quyết số 20/NQ-TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, quan điểm chỉ đạo nêu: Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi người dân và của cả xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe là nghĩa vụ, trách nhiệm của mỗi người dân, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đầu tư cho bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân là đầu tư cho phát triển.
Khái niệm về bệnh tật - Bệnh là sự rối loạn đời sống bình thường của cơ thể, do ảnh hưởng của những tác nhân phá hoại khác nhau, sự rối loạn ấy dẫn tới một cân bằng mới kém bền vững, hạn chế khả năng thích nghi của cơ thể đối với môi trường và giảm khả năng lao động của con người. 4 - Bệnh là quá trình hoạt động không bình thường của cơ thể sinh vật từ nguyên nhân khởi thuỷ đến hậu quả cuối cùng. Bệnh có thể gặp ở người, động vật hay thực vật. Có rất nhiều nguyên nhân sinh ra bệnh, nhưng có thể chia thành ba loại chính: + Bệnh do bản thân cơ thể sinh vật có khuyết tật như di truyền bẩm sinh hay rối loạn sinh lý.
+ Bệnh do hoàn cảnh sống của sinh vật khắc nghiệt như quá lạnh, quá nóng, bị ngộ độc, không đủ chất dinh dưỡng. + Bệnh do bị các sinh vật khác (nhất là các vi sinh vật) ký sinh [36]. Hiện nay, một định nghĩa bệnh đang được dùng theo từ điển y học Dorlanhds 2000 là “Bệnh là bất kỳ sự sai lệch hoặc tổn thương nào vê cấu trúc và chức năng của bất kỳ bộ phận, cơ quan nào của hệ thống nào của cơ thể biểu hiện bằng một bộ triệu chứng đặc trưng giúp thầy thuốc có thể chẩn đoán xác định và chẩn đoán phân biệt, mặc dù nhiều khi ta chưa rõ về nguyên nhân, về bệnh lý học và tiên lượng” [19]. Khái niệm về tử vong (chết) Chết là một cách kết thúc của bệnh.
Chết là một quá trình, mặt dù có khi chỉ kéo dài vài chục giây hay vài phút, cũng có khi kéo dài vài ngày, được nghiên cứu dưới cái tên là tình trạng cuối cùng của cuộc sống [19] Quá trình tử vong, trong trường hợp điển hình gồm 4 giai đoạn: - Giai đoạn tiền hấp hối - Giai đoạn hấp hối - Giai đoạn chết lâm sàng - Giai đoạn chết sinh học 1. Khái niệm về mô hình bệnh tật và tử vong Mô hình bệnh tật, tử vong của một quốc gia, hay một địa phương, một cộng đồng là sự phản ánh tình hình sức khỏe, tình hình kinh tế - xã hội của 5 quốc gia hay cộng đồng đó. Mô hình bệnh tật, tử vong của một cộng đồng trong một giai đoạn là tỉ lệ phần trăm các nhóm bệnh tật, các bệnh hoặc tử vong của cộng đồng trong giai đoạn đó. Từ mô hình bệnh tật người ta có thể xác định được các nhóm bệnh (bệnh) phổ biến nhất để có cơ sở xây dựng kế hoạch phòng chống bệnh tật trước mắt và lâu dài cho cộng đồng [13].
Thường có 3 mô hình: - Mô hình bệnh tật ở các nước chậm phát triển: Bệnh nhiễm trùng chiếm tỷ lệ cao. - Mô hình bệnh tật ở các nước đang phát triển: Bệnh nhiễm trùng chiếm tỷ lệ thấp, bệnh mãn tính và không nhiễm trùng là chủ yếu. - Mô hình bệnh tật ở các nước phát triển: Bệnh tim mạch, đái tháo đường và bệnh lý người già là chủ yếu [30]. Các yếu tố tác động đến mô hình bệnh tật Đó chính là các yếu tố tác động đến sức khỏe.
Dahlgren và Whitehead chia chúng thành các yếu tố có thể biến đổi được và không thể biến đổi được. - Những yếu tố không thể biến đổi được: Tuổi, giới tính, dân tộc, yếu tố di truyền. - Những yếu tố có thể biến đổi được: + Các yếu tố cấu trúc thấp: hòa bình, ổn định chính trị, phát triển kinh tế và công bằng. + Các yếu tố cấu trúc cao: khẩu phần ăn, nước sạch, nhà cửa, y tế, giáo dục.
+ Các yếu tố thuộc về lối sống: thuốc lá, rượu, tình dục, ma túy, lạm dụng thuốc và các mạng lưới xã hội [14]. Tuổi, giới tính và yếu tố di truyền Tuổi, giới tính là một trong những yếu tố quyết định cơ cấu dân số của một khu vực. 6 Về mặt bệnh tật, từng nhóm tuổi có những đặc thù riêng. Sơ sinh với bệnh lý đặc thù: uốn ván rốn, nhiễm trùng sơ sinh, trẻ đẻ thiếu tháng, ngạt sau khi sinh…; người già với các bệnh lý đặc thù như: tăng huyết áp (THA), xơ vữa động mạch, bệnh mạch vành… và các bệnh lý ung thư thường gia tăng theo tuổi.
Các biến chứng sản khoa là bệnh lý đặc trưng của phụ nữ tuổi sinh đẻ, trong khi nhồi máu cơ tim thường chỉ xảy ra phụ nữ tuổi mãn kinh. Như vậy cấu trúc dân số khác nhau giữa các khu vực là một trong những yếu tố làm khác biệt về MHBT giữa các khu vực đó.