MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài LTCT là yếu tố sống còn của DN, nó giúp cho DN khác biệt nổi trội so với đổi thủ, có được các lợi thế mà đối thủ không có, cung cấp được các giá trị mà đối thủ không thể cung cấp, làm được điều mà đối thủ không thể làm. Theo Victor Cheng (2017), “DN không bao giờ nên cạnh tranh trong những lĩnh vực mà họ không có được lợi thế hơn hẳn đối thủ”, còn theo Michael E.Porter, LTCT đóng vai trò trung tâm cốt lõi trong thành tích hoạt động của các DN, vì thế, việc xây dựng LTCT bền vững là điều tối quan trọng cho bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào. Tuy nhiên do sự bắt chước của đối thủ, LTCT rất dễ bị mờ dần và mất đi, đòi hỏi DN phải cố gắng xây dựng một LTCT bền vững.
Ngày nay, khi các công ty đều có tốc độ tăng trưởng chậm lại, “miếng bánh” mà các đối thủ cạnh tranh sở hữu không bao giờ được cho là đủ, thì LTCT càng được đặt lên tầm quan trọng hàng đầu. Cũng chính vì vậy, “LTCT” luôn là đề tài được giới nghiên cứu và các DN dành sự quan tâm đặc biệt, nó tạo ra những làn sóng tranh luận gay gắt, sôi nổi, quyết liệt giữa nhiều trường phái, cả trên phương diện lý thuyết và thực tiễn. Các nghiên cứu về LTCT từ trước tới nay rất đa dạng và được thực hiện ở nhiều mảng khác nhau: K.Ohmae đã nghiên cứu các phương pháp để DN giành lấy LTCT; trong khi Michael E. Porter đề ra các điều kiện để duy trì LTCT cho DN; Barney vào năm 1986 đã đưa ra lý thuyết về mối liên hệ giữa nguồn lực DN và LTCT bền vững; còn Hitt đã đề xuất các DN cần nghiên cứu sâu việc làm thế nào để có LTCT hữu ích trong từng giai đoạn trong bài viết xuất bản năm 2008… Các nghiên cứu, lý thuyết trước đây đều có tính ứng dụng và lý luận cao, đặt nền móng cho các nghiên cứu sau này kế thừa và phát huy.
Mỗi lý thuyết đề cập đến một khía cạnh nhất định của DN, chúng phù hợp với từng 2 lĩnh vực kinh doanh và đặc điểm ngành kinh doanh khác nhau. Do đó, trong các trường hợp cụ thể, người vận dụng cần nghiên cứu tổng hòa các lý thuyết để đề ra cho mình một phương hướng nghiên cứu và áp dụng riêng biệt. Công ty cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại quốc tế (ICT) được thành lập năm 1999, hoạt động trong 05 lĩnh vực chính: kinh doanh nhựa đường, kinh doanh điện, kinh doanh vật liệu xây dựng, kinh doanh bất động sản và kinh doanh du lịch - thực phẩm sạch, trong đó hai lĩnh vực nhựa đường và điện là lĩnh vực mang lại doanh thu lớn nhất cho công ty. Xét về điều kiện kinh doanh của ICT, việc nghiên cứu vận dụng một lý thuyết để đánh giá đúng LTCT của công ty là rất cần thiết, từ đó giúp khắc phục nhược điểm mà hiện nay ICT đang gặp phải, bao gồm nhược điểm về tổ chức lực lượng bán hàng, giá nhập khẩu đầu vào, nguồn cung cấp, hay chi phí quản lý.
Với mong muốn đào sâu nghiên cứu về lý thuyết LTCT DN, áp dụng cụ thể cho trường hợp của ICT, từ đó tìm ra các giải pháp giúp ICT nâng cao LTCT của mình, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu là “Lý thuyết LTCT DN: Nghiên cứu trường hợp Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng và Thương mại quốc tế (ICT)”. Tổng quan nghiên cứu Trước đây đã có rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước về lý thuyết LTCT DN, từ đó các tác giả đưa ra các giải pháp nâng cao LTCT cho DN trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Có thể điểm qua một số đề tài nghiên cứu về lý thuyết LTCT DN đã được các tác giả thực hiện như sau: 2. Các công trình nghiên cứu trong nước: - Luận văn “Một số giải pháp nâng cao LTCT của VNPT mảng viễn thông đến năm 2010” của Thạc sỹ Ngô Quang Huân (2007) đã phân tích năng lực và LTCT của tập đoàn VNPT trong mảng viễn thông thông qua mô hình 3 năm lực lượng cạnh tranh của M.
Từ đó, tác giả đề xuất các phương án nâng cao LTCT cho DN trong bối cảnh thị trường viễn thông đầy biến động giai đoạn 2007 – 2010. - Luận án tiến sĩ “Năng lực cạnh tranh của DN nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn thành phố Hà Nội” của tác giả Phạm Thu Hương (2007) đã xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh phù hợp với đặc điểm của DN nhỏ và vừa Việt Nam gồm: (1) Khả năng duy trì và mở rộng thị phần của DN, (2) Năng lực cạnh tranh của sản phẩm, (3) Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN, (4) Năng suất các yếu tố sản xuất, (5) Khả năng thích ứng và đổi mới của DN, (6) Khả năng thu hút nguồn lực và Khả năng liên kết hợp tác của DN. Đồng thời, tác giả đánh giá mức độ tác động của từng nhân tố đến năng lực cạnh tranh của DN nhỏ và vừa, từ đó đề xuất giải pháp cho các DN Việt Nam. - Tác giả Trần Văn Tùng trong tác phẩm “Cạnh tranh kinh tế, LTCT quốc gia và chiến lược cạnh tranh của công ty” xuất bản năm 2004 đã phân tích cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế, đề cập đến LTCT quốc gia và đưa ra đề xuất cho các công ty về chiến lược cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.
- Tác giả Phạm Thu Thủy trong luận án tiến sĩ “Xây dựng LTCT của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam trên thị trường bán lẻ” đã sử dụng khung lý thuyết thẻ điểm cân bằng, kết hợp với phương pháp nghiên cứu thống kê và sử dụng phần mềm SPSS để phân tích kết quả, từ đó đưa ra các giải pháp thiết thực nhằm xây dựng LTCT cho ngân hàng BIDV trên thị trường bán lẻ. - Thạc sỹ Nguyễn Thị Huyền Trâm trong tác phẩm “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” đã nêu ra các tiêu chí đánh giá NLCT của DN gồm: (1) Khả năng duy trì và mở rộng thị phần 4 của DN, (2) NLCT của sản phẩm, (3) Năng lực duy trì và nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN, (4) Năng suất các yếu tố sản xuất, (5) Khả năng thích ứng và đổi mới của DN, (6) Khả năng thu hút nguồn lực, (7) Khả năng liên kết và hợp tác của DN. Dựa vào các tiêu chí trên, tác giả đánh giá tình hình năng lực cạnh tranh của các DN Việt Nam, và đề xuất phương hướng hành động để nâng cao năng lực cạnh tranh cho các DN. - Luận án tiến sĩ của Lê Thị Hằng (2013) về “Nâng cao năng lực cạnh tranh của các DN ngành viễn thông” nêu ra các tiêu chí đánh giá NLCT của các công ty ngành Viễn thông gồm có: (1) Chất lượng sản phẩm/dịch vụ, (2) Giá cước sản phẩm/dịch vụ, (3) Hệ thống kênh phân phối sản phẩm/dịch vụ, (4) Sự khác biệt hóa sản phẩm/dịch vụ, (5) Thông tin và xúc tiến thương mại, (6) Thương hiệu và uy tín của sản phẩm / dịch vụ.
Từ đó, tác giả tiến hành đo lường thông qua phát phiếu khảo sát 972 khách hàng và tổng hợp số điểm mà khách hàng đánh giá cho 3 công ty viễn thông Viettel, Mobiphone và Vinaphone theo từng tiêu chí. Kết quả cho thấy điểm số tương đối cao và sự khác biệt giữa 3 nhà cung cấp là không đáng kể, riêng tiêu chí giá cước dịch vụ bị cho điểm thấp và có nhiều khác biệt. Dựa trên kết quả đó, tác giả đưa ra các giải pháp cho các công ty nói trên để tăng NLCT. Các công trình nghiên cứu nước ngoài - Nghiên cứu kinh điển nhất về cạnh tranh phải kể tới là lý thuyết 5 lực lượng cạnh tranh của Michael Porter, lần đầu tiên được xuất bản vào năm 1979 trên tạp chí Harvard Business Review.
Mô hình này được xem là căn cứ hiệu quả để tìm ra nguồn gốc của lợi nhuận dựa trên 5 lực lượng: các đối thủ tiềm năng, khách hàng, sản phẩm thay thế, nhà cung ứng và các đối thủ hiện 5 có trên thị trường. Nó cũng cung cấp cho DN các chiến lược để cạnh tranh, từ đó tăng thị phần và lợi nhuận. - Nghiên cứu của Arnis Sauka (2014) về “Đo lường NLCT của các công ty ở Latvia” xác định 7 yếu tố tác động đến NLCT của DN bao gồm: (1) Nguồn lực tài chính, (2) Năng lực tiếp cận các nguồn lực, (3) Năng lực kinh doanh so với đối thủ, (4) Năng lực làm việc của nhân viên, (5) Tác động của môi trường, (6) Sử dụng mạng lưới thông tin liên lạc, (7) Chiến lược kinh doanh. Thông qua khảo sát, tác giả đo lường tác động của các yếu tố trên đến NLCT của DN, nhưng mới chỉ thống kê và nhận xét dựa trên giá trị trung bình.
Nghiên cứu cũng không phân loại các DN theo ngành nghề, quy mô,. mà chỉ đề cập đến cấp công ty nói chung nên còn nhiều hạn chế. - Năm 1995, cuốn “The generalized double diamond approach to international competitiveness” của H.Chang Moon, Alain Verbeke và Alan M.Rugman đã nghiên cứu cách đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tốt hơn và vai trò của chính phủ tác động tới LTCT của các công ty, nền công nghiệp và các quốc gia. - Chi-Kun Ho (2005) nghiên cứu mối quan hệ giữa các hoạt động quản trị trong DN và NLCT của DN.
Năm khía cạnh mà tác giả đưa ra để đo lường hoạt động quản trị trong DN là: (1) Cương vị quản lý, (2) Sở hữu tập trung và các mối quan hệ vốn – thị trường, (3) Cơ cấu hội đồng quản trị, (4) Chiến lược lãnh đạo, (5) Trách nhiệm xã hội. Kết quả điều tra khảo sát và phân tích hồi quy chỉ ra mối quan hệ thuận chiều giữa năm khía cạnh trên với NLCT của DN, và cần phải xem xét năm yếu tố trên cùng nhau sẽ cho kết quả có ý nghĩa hơn là xem xét riêng lẻ. Tuy nhiên nghiên cứu này chỉ tập trung xem xét ảnh hưởng của hoạt động quản trị tới NLCT chứ chưa xem xét các yếu tố khác, cũng như mối quan hệ của DN với môi trường bên ngoài, do đó còn tồn tại nhiều khoảng trống. 6 Nhìn chung, các nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây đã đề cập rất nhiều tới lý thuyết LTCT DN.
Đây là chủ đề không mới, tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu trên đều khó có thể áp dụng cụ thể cho tất cả các DN trong các ngành nghề khác nhau.