Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu Chương 2. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu Chương 3. Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định Chương 4.
Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu ở Bình Định 5. Những đóng góp mới của luận án Luận án có những đóng góp mới sau đây: Một là, Luận án đã bổ sung và hoàn thiện khái niệm về năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu và năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu. Đây là nền tảng lý 3 luận và tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo có liên quan đến năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu và năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu. Hai là, trên cơ sở phân tích kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số quốc gia trên thế giới và các địa phương ở Việt Nam, luận án đã rút ra được các bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cao về nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định.
Ba là, Luận án đã hình thành cách đánh giá năng lực cạnh tranh cho sản phẩm xuất khẩu nói chung và sản phẩm gỗ xuất khẩu theo phương thức đánh giá cả về mặt định tính và định lượng. Vì thế, có thể xem những đóng góp này là những điểm mới trong việc hoàn thiện khung lý luận về năng lực cạnh tranh sản phẩm xuất khẩu nói chung và năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu nói riêng. Bốn là, trên cơ sở sử dụng các tiêu chí đánh giá NLCT sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định giai đoạn 2012-2017 và sử dụng phương pháp phân tích chuỗi giá trị sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định, luận án đã rút ra được các thành tựu nổi bật và phát hiện được các bất cập làm hạn chế năng lực cạnh tranh của SPGXK tỉnh Bình Định trong thời gian qua. Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ cung cấp thông tin đầy đủ, toàn diện và sát với tình hình thực tế về năng lực cạnh tranh của sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định mà từ trước đến nay chưa có nghiên cứu nào thực hiện.
Năm là, kết quả nghiên cứu của luận án cũng chỉ ra được các yếu tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng như thế nào đến nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm gỗ xuất khẩu tỉnh Bình Định. Điều này giúp cho lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến gỗ xuất khẩu nhận diện được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức mà môi trường kinh doanh tạo ra để có các giải pháp cụ thể cho đơn vị mình. Bên cạnh đó, nó còn giúp lãnh đạo địa phương, các nhà quản lý, Hiệp hội gỗ và chế biến lâm sản Bình Định có chính sách hỗ trợ thích hợp để ngành chế biến gỗ xuất khẩu của tỉnh Bình Định ngày càng phát triển bền vững. Sáu là, trên cơ sở kết quả phân tích về thực trạng năng lực cạnh tranh và các yếu tố ảnh hưởng đến việc nâng cao NLCT của SPGXK tỉnh Bình Định trong thời gian qua, Luận án đã đề xuất hệ thống các nhóm giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của SPGXK tỉnh Bình Định trong thời gian tới.
Bảy là, luận án đã sử dụng phương pháp phân tích chuỗi giá trị vào đánh giá NLCT cho SPGXK tỉnh Bình Định. Đây được xem là điểm mới trong việc vận dụng phương pháp này vào đánh giá NLCT cho SPGXK của một địa phương mà trước đây chưa có nghiên cứu nào đã thực hiện. 4 PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU Để có định hướng nghiên cứu đúng đắn cũng như nhằm tìm kiếm những điểm mới và khoảng trống trong nghiên cứu của luận án, tác giả đã tiến hành thu thập và tổng quan các vấn đề, các nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án. Tổng quan các công trình lý thuyết về năng lực cạnh tranh Về phương diện lý thuyết, năng lực cạnh tranh đã được M.
Porter đề cập và phân tích trong cuốn sách “The competitive Advantage of Nations”, được dịch là “Lợi thế năng lực cạnh tranh quốc gia” [101]. Tác giả cho rằng “trong thời đại ngày nay, năng lực cạnh tranh đã trở thành một trong những mối quan tâm chính đối với chính phủ, ngành, doanh nghiệp ở bất kỳ một quốc gia nào”. Từ khẳng định trên, M.Porter đi sâu nghiên cứu nền móng thành công về mặt kinh tế của quốc gia, ngành, doanh nghiệp. Kết quả nghiên cứu của M.Porter đưa một mô hình (mô hình kim cương) để phân tích và giải thích nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong một ngành, một sản phẩm nhất định, qua đó giải thích tại sao một quốc gia có thể thành công trong một ngành, một sản phẩm và quốc gia khác lại không thành công.
Mô hình này cho rằng có bốn yếu tố, chính là bốn thuộc tính cơ bản của một quốc gia, định hình môi trường cạnh tranh cho doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh, bao gồm: (i) lợi thế so sánh của quốc gia về các yếu tố đầu vào của sản xuất là lao động, vốn, cơ sở hạ tầng cần thiết cho cạnh tranh của một ngành, một sản phẩm; (ii) đặc tính của nhu cầu trong nước đối với sản phẩm hoặc sản phẩm của ngành đó; (iii) sự phát triển của công nghiệp phụ trợ; (iv) những điều kiện liên quan đến thành lập, tổ chức và điều hành doanh nghiệp của quốc gia. Bốn yếu tố này, kết hợp với nhau tạo thành một “tinh thể kim cương” bền vững và rất cần thiết cho ngành được thành công và duy trì khả năng cạnh của các ngành. Mô hình lý thuyết này của M.Porter đã mở ra một cách tiếp cận tổng thể hơn về khả năng cạnh tranh của một ngành trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu. Công trình nghiên cứu của J.Nelson (2003) “Innovation and competitiveness”[94], công trình này nghiên cứu về lý thuyết NLCT, nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong các cấp độ cạnh tranh.
Khi phân tích so sánh NLCT giữa các quốc gia, giữa các ngành và giữa các DN lớn dạng tập đoàn quốc tế, NLCT có nguồn gốc từ việc tạo ra những khác biệt cần thiết cho việc duy trì sự tăng trưởng trong một môi trường cạnh tranh quốc tế. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiếp cận NLCT ngành dưới góc độ tổng thể, tức là NLCT của toàn ngành trong tương quan ngành của quốc gia này với ngành của quốc gia 5 khác. Tác giả nhấn mạnh vai trò của yếu tố lợi thế quốc gia trong việc tạo dựng và củng cố NLCT của ngành. Cách tiếp cận này mang lại nhiều kết quả và ý nghĩa hơn trong việc định hướng tổng thể và hiệu quả chính sách phát triển ngành.
Tổng quan các nghiên cứu thực tiễn liên quan đến đề tài Đến nay, đề tài nghiên cứu về NLCT SPGXK tại một địa phương hầu như chưa có nghiên cứu nào đã thực hiện. Do vậy, khảo lược nghiên cứu của luận án chỉ dừng lại ở những nghiên cứu tương tự, mang tính phổ quát từ NLCT của ngành, của SPXK và của SPGXK. Tổng quan các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến đề tài Hiện nay, các nghiên cứu nước ngoài về năng lực cạnh tranh (NLCT) nói chung và NLCT sản phẩm xuất khẩu nói riêng đã được đề cập theo nhiều góc độ khác nhau. Nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của ngành hàng lâm sản: - Nghiên cứu của tác giả N.Savić và cộng sự (2011)[107], với mục tiêu là phân tích NLCT của ngành công nghiệp lâm sản ở Macedonia thông qua mô hình Kim cương của MC.
Bằng việc sử dụng phương pháp thống kê, phân tích tổng hợp để đánh giá các nhóm yếu tố trong mô hình kim cương như: yếu tố điều kiện, yếu tố nhu cầu, chiến lược của công ty, sự cạnh tranh và cơ cấu ngành, các ngành công nghiệp hỗ trợ liên quan. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng những thế mạnh của ngành công nghiệp lâm sản Macedonia là lao động giá rẻ, chi phí nguyên vật liệu thấp so với khu vực, vị trí địa lý và cơ sở hạ tầng giao thông tốt. Điểm yếu đến từ việc thiếu đầu tư cơ sở hạ tầng (do thiếu vốn), chiến lược công ty không phù hợp, máy móc thiết bị lạc hậu, năng suất thấp và các sản phẩm có giá trị gia tăng thấp. Và giải pháp đưa ra là để có thể đạt được kết quả tốt hơn ngành công nghiệp lâm sản nơi đây cần tổ chức sản xuất tốt hơn, tiếp tục đầu tư vào công nghệ hiện đại và đầu tư nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Tuy nhiên, nghiên cứu chỉ dừng lại ở việc phân tích các yếu tố thuộc môi trường ngành, nghiên cứu chưa sử dụng được các chỉ tiêu cụ thể để đo lường NLCT của ngành. Đồng thời, nghiên cứu cũng chưa xây dựng được chuỗi giá trị của ngành để so sánh giá trị đóng góp của các bên tham gia vào quá trình tạo ra giá trị sản phẩm để từ đó có thêm cơ sở để đánh giá NLCT của ngành. Do đó, kết quả nghiên cứu chưa đánh giá được NLCT thực sự của ngành so với đối thủ cạnh tranh. Vì thế, nghiên cứu vẫn còn nhiều hạn chế nếu vận dụng nghiên cứu ở những ngành khác.
- Còn theo Hubert Paluš và cộng sự (2015) [90], để đánh giá NLCT của ngành, nghiên cứu đã dựa trên các tiêu chí như: giá trị xuất khẩu (XK), lợi thế so sánh (RCA), lợi thế so sánh hiệu chỉnh (RSCA), chỉ số lợi thế thương mại tương đối (RTA) và chỉ số cạnh tranh thương mại (TC),. để đánh giá lợi thế cạnh tranh của 6 ngành công nghiệp chế biến gỗ Slovakia. Với phương pháp thống kê và so sánh, thông qua tính toán tổng hợp từ số liệu điều tra, nghiên cứu đã kết luận ngành công nghiệp CBGXK của Slovakia có lợi thế so sánh trong hầu hết các sản phẩm gỗ xuất khẩu trên thị trường thế giới. Hạn chế của nghiên cứu này là chưa phân tích được các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến NLCT của ngành để đưa ra giải pháp hợp lý.
- Theo Xiao Han và cộng sự (2009)[127], với mục tiêu đánh giá NLCT toàn cầu của ngành đồ gỗ nội thất Trung Quốc. Để thực hiện nghiên cứu này, nhóm tác giả sử dụng hệ thống các chỉ tiêu đánh giá gồm: Thị phần (MS), lợi thế so sánh (RCA), chỉ số cạnh tranh thương mại (TC) để đánh giá NLCT của ngành đồ gỗ nội thất Trung Quốc. Bằng phương pháp thống kê, so sánh và phương pháp đồ họa, nghiên cứu đã đưa ra nhận định rằng NLCT SPGXK của Trung Quốc khá tốt.