MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài Các học thuyết về kinh tế thị trường hiện đại, dù thuộc trường phái chủ nghĩa tự do hay trường phái chủ nghĩa can thiệp đều đi đến kết luận: “Cạnh tranh với tính cách là động lực phát triển nội tại của nền kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường”. Trong giai đoạn mới - giai đoạn phát triển nền kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập sâu vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Hầu hết tất cả các quốc gia đều thừa nhận trong mọi hoạt động đều phải có cạnh tranh và coi cạnh tranh không những là môi trường, động lực của sự phát triển nói chung, thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển và tăng năng suất lao động, tăng hiệu quả của các doanh nghiệp nói riêng, mà còn là yếu tố quan trọng làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội khi Nhà nước bảo đảm sự bình đẳng trước pháp luật của chủ thể thuộc mọi thành phần kinh tế. Ở Việt Nam, việc chuyển đổi sang kinh tế thị trường bắt đầu từ năm 1986.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi chính sách kinh tế nhiều thành phần đi vào cuộc sống, tư tưởng cạnh tranh giữa các đơn vị, giữa các thành phần kinh tế được thừa nhận thì một số doanh nghiệp và mặt hàng của Việt Nam đã có chỗ đứng trên thị trường trong nước và vươn ra cạnh tranh được trên thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, năng lực cạnh tranh của phần lớn doanh nghiệp và hàng hoá của Việt Nam còn yếu kém cả về chất lượng, mẫu mã và giá cả; tốc độ hội nhập của Việt Nam còn ở mức trung bình; xếp hạng năng lực cạnh tranh của Việt Nam qua các năm còn thấp, năm 2011 xếp thứ 65/142, năm 2012 xếp thứ 75/144 nước so sánh. Nông nghiệp là một ngành sản xuất quan trọng của Việt Nam, hiện tại nông nghiệp vẫn chiếm 71,1 % lực lượng lao động của toàn xă hội và khoảng 18% GDP của cả nước. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Đảng cộng sản Việt Nam đã đề ra mục tiêu chiến lược về CNH-HĐH đất nước là: từ nay (1996) đến năm 2020 phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp.
Vì vậy trong cơ cấu kinh tế, công nghiệp và dịch vụ sẽ chiếm tỷ trọng lớn trong GNP và trong lao 2 động xă hội. Mặc dù vậy sản xuất nông nghiệp vẫn có một vị trí hết sức quan trọng trong nhiều năm nữa. Việc tự do hóa sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là sản xuất lúa gạo, đã giúp Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới về xuất khẩu gạo. Những nông sản quan trọng khác là cà phê, sợi bông, đậu phộng, cao su, đường, và trà.
Trong sản xuất nông nghiệp, có nhiều yếu tố tác động đến năng suất và sản lượng các loài cây trồng như: đất đai, thời tiết, khí hậu, các thiết bị kỹ thuật, giống, phân bón. Song phân bón bao giờ cũng là yếu tố có tính quyết định thường xuyên. Bởi vậy, ở Việt Nam phân bón được xếp vào loại mặt hàng chiến lược hết sức quan trọng. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc (HANICHEMCO) là doanh nghiệp nhà nước trung ương đóng trên địa bàn Tỉnh Bắc Giang, được thành lập với nhiệm vụ sản xuất phân bón và các sản phẩm hóa chất phục vụ các ngành khác của đất nước.
Với hơn năm mươi năm xây dựng và phát triển, HANICHEMCO là đứa con đầu lòng của ngành sản xuất phân đạm Việt Nam. Từ khi bước vào sản xuất đến nay, đã góp phần đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, bảo đảm an ninh lương thực, các sản phẩm khác cũng góp phần đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho xã hội. Bên cạnh đó, HANICHEMCO còn là cái nôi đào tạo đội ngũ cán bộ, kỹ sư, công nhân kỹ thuật cho các nhà máy đạm lớn hơn và cho các cơ quan, doanh nghiệp khác trong nước. Từ năm 2000 đến nay, HANICHEMCO đã có những cố gắng vượt bậc, phát huy tốt các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư, duy trì tốc độ tăng trưởng cao, ổn định cả về sản xuất và tiêu thụ, hoàn thành xuất sắc các mục tiêu kế hoạch, có nhiều đóng góp cho ngân sách nhà nước và xã hội, có vị trí quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước của ngành hoá chất Việt Nam.
Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay, HANICHEMCO xác định nhiệm vụ trọng tâm của mình là nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tiếp tục mở rộng và phát triển Công ty thành một đơn vị vững mạnh của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam và của cả ngành hóa chất Việt Nam. Hiện nay, tổng nhu cầu phân bón Urê trong nước hàng năm khoảng 2,2 triệu 3 tấn trong khi tổng sản lượng sản xuất trong nước đạt 0,99 triệu tấn còn lại là nhập khẩu, trong đó Nhà máy Đạm Hà Bắc công suất 190 nghìn tấn/năm và Nhà máy Đạm Phú Mỹ công suất 800 nghìn tấn/năm. Tuy nhiên, Thị trường Urê kể từ năm 2013 trở đi sẽ chứng kiến nhiều cuộc cạnh tranh gay gắt khi cung bỏ xa cầu do có thêm Nhà máy Đạm Cà Mau công suất 800 nghìn tấn/năm, Nhà máy Đạm Ninh Bình công suất 560 nghìn tấn/năm đi vào hoạt động và Nhà máy Đạm Hà Bắc sẽ có thêm dây chuyền 2 nâng công suất lên thành 500 nghìn tấn/năm hiện đang được đầu tư và sẽ đi vào hoạt động trong năm 2014. Để HANICHEMCO tồn tại và phát triển bền vững trước sức ép cạnh tranh trên thị trường, rất Cần có những nghiên cứu về lý luận và thực tiễn nhằm tìm kiếm các giải pháp hữu hiệu.
Trên tinh thần đó, tác giả chọn vấn đề “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm đạm urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc” làm đề tài nghiên cứu của mình. Tổng quan các công trình đã nghiên cứu có liên quan đến đề tài Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nước ta, của các doanh nghiệp, của sản phẩm,. đã được giới học thuật, các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách, quản lý doanh nghiệp,. rất quan tâm nghiên cứu.
Liên quan đến đề tài này, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ kinh tế,. Chẳng hạn: Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế, NXb Chính trị Quốc gia, Hà Nội; Trần Thị Thu Hương (2012), Yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh ngành bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội; Trần Thị Anh Thư (2012), Tăng cường năng lực cạnh tranh của Tập đoàn bưu chính viễn thông Việt Nam trong điều kiện Việt Nam là thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới, Luận án tiến sĩ kinh tế, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương; Nguyễn Hồng Cẩm (2006), Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty cổ phần dệt may thành công đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế TP.HCM; Đào Duy Anh (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm 4 chè xuất khẩu của Công ty cổ phần chè Quân Chu, Thái nguyên trước thềm hội nhập kinh tế quốc tế, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị kinh doanh - Đại học Thái Nguyên; Mạc Thị Hà (2013), Chiến lược kinh doanh sản phẩm phân bón trên thị trường Miền trung - Tây nguyên của Công ty Cổ phần phân bón và hóa chất dầu khí Miền trung, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Đà Nẵng; Vũ Hoàng Nam (2010), Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần điện tử biên hòa, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân; Lê Thị Nhung (2011), Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Cổ phần TOJI Việt Nam đến năm 2015, Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học kinh tế quốc dân. Luận văn “Nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm đạm urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc” là một nghiên cứu mới không trùng lặp với các nghiên cứu trước đây, tập trung đề xuất cho một sản phẩm cụ thể của một doanh nghiệp cụ thể trong lĩnh vực kinh doanh sản phẩm phân bón đó là phân đạm Urê của HANICHEMCO.Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3. Mục tiêu Trên cơ sở lý luận chung về năng lực cạnh tranh và phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh sản phẩm đạm urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, đánh giá những thành công đã đạt được, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng, từ đó chỉ ra định hướng và giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh 3.
Nhiệm vụ Hệ thống hóa những cơ sở lý luận về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Phân tích thực trạng về năng lực cạnh tranh sản phẩm đạm Urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc, từ đó đánh giá thành công, hạn chế, nguyên nhân của thực trạng đó. Đưa ra các định hướng và đề xuất những giải pháp hữu hiệu để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm Đạm Urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm Đạm Urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc. Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc khá rộng gồm sản xuất sản phẩm phân bón Urê, A mo ni ắc, CO2 lỏng, CO2 rắn.
Trong phạm vi đề tài này, luận văn đi sâu nghiên cứu năng lực cạnh tranh sản phẩm Đạm Urê của Công ty TNHH một thành viên Phân đạm và Hóa chất Hà Bắc có so sánh với các sản phẩm Đạm Urê của các đối thủ cạnh tranh như: Đạm Hà Bắc, Đạm Ninh Bình và Đạm Phú Mỹ trên thị trường Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Luận văn sử dụng các phương pháp phỏng vấn, phương pháp điều tra khảo sát để thăm dò ý kiến của khách hàng hiện tại và khách hàng tiềm năng; phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu; phương pháp phân tích tổng hợp và phân tích hệ thống; phương pháp thống kê và dự báo.