Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Lịch sử nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát ở Lào Lào là quốc gia không giáp biển duy nhất tại Đông Nam Á, hầu hết lãnh thổ nắm giữa vĩ độ 14° và 23° Bắc, và kinh độ 100° và 108° Đông. Lào có cảnh quan rừng rậm, hầu hết là các dãy núi gồ ghề, đỉnh núi cao nhất là Phou Bia cao 2.818 m, cùng một số đồng bằng và cao nguyên. Sông Mekong tạo thành một đoạn dài biên giới phía tây với Thái Lan, còn dãy Trường Sơn tạo thành hầu hết biên giới phía đông với Việt Nam, dãy núi Luangprabang tạo thành biên giới tây bắc với các vùng cao Thái Lan.
Có hai cao nguyên là Xiangkhoang tại phía bắc và Bolaven tại phía nam. Lào có khí hậu nhiệt đới, chịu ảnh hưởng của gió mùa.Lào có thể được phân thành ba khu vực địa lý: bắc, trung và nam[45]. Các công trình nghiên cứu về LC BS ở khu vực Đông Dương liên quan đến Lào đã được công bố bắt đầu từ những năm 30 của thế kỷ XX. Từ năm 1933 đến 1944, Bourret R.
đã viết các chuyên khảo về LC BS Đông Dương (Việt Nam, Lào và Campuchia), Les Tortues de l’Indochine (1941) mô tả 6 loài rùa ở Lào[7], Les Batraciens de l’Indochine (1942) mô tả 14 loài lưỡng cư ở Lào[8]. Les Lézards de l'Indochine (được xuất bản chính thức năm 2009) mô tả 177 loài và phân loài thằn lằn trong đó có những nghiên cứu ở Lào[9]. Đây được coi là những tài liệu đầy đủ nhất về LC BS ở giai đoạn trước 1954 của Đông Dương. Deuve mô tả trong cuốn Serpentes du Lao mô tả 94 loài rắn, trong đó có 64 loài được xác định ở Lào[12].
Trong báo cáo về động vật hoang dã của Lào năm 1999 được tổng kết bởi Duckworthvà đtg cho thấy nước Lào có 166 loài LC BS. Trong báo cáo này còn mô tả sự phân bố, môi trường sống và tình trạng bảo tồn của LC BS [13]. Năm 2002, Stuart và đtg đã công bố mộ loài mới là Paramesotriton laoensis ở phía Bắc của Lào. Đây là loài thuộc họ cá cóc đầu tiên được ghi nhận tại Lào [35].
4 download by : skknchat@gmail.com Trong năm 2004, có nhiều các công bố loài mới và ghi nhận mới ở lào như Teynie công bố 25 loài bò sát ở tỉnh Phongsaly bao gồm 13 loài thằn lằn và 12 loài rắn. Qua nghiên cứu này tác giả cũng đưa ra thực trạng các loài bò sát đang bị săn bắt rất nhiều, đặc biệt là các loài thuộc giống Ptyas, các loài này sau khi thu bắt sẽ chuyển sang Trung Quốc và Việt Nam[4]. Ohler và đtg đã công bố loài mới Leptobrachium buchardi ở cao nguyên Boloven của Lào [5]. Stuart và đtg đã công bố loài mới thuộc giống Philautusở khu bảo tồ quốc gia Phou Dendin ở phía bắcLào là Philautus petilus[37].
Cũng trong năm này, Stuart và đtg đã đưa thông tin chi tiết về 19 loài rùa bị bắt và buôn bán được thu từ các chợ của Lào, Việt Nam và Camphuchia[38]. Năm 2005 Stuart có 4 công bố về LC BS ở Lào, cụ thể là công bố loài Rana khalam và 44 loài lưỡng cư thuộc giống Ranidae ở Lào và Việt Nam [17]; Các nghiên cứu từ tháng 2 năm 1998 và tháng 12 năm 2000đã công bố 46 loài ếch được ghi nhận ở Lào vào bổ sung những thông tin về sự phân bố của chúng [32]; Tháng 12 Stuart và đtg đã công bố 3 loài ếch mới, một loài mới được thu thập từ cao nguyên Bolaven của miền nam Lào là Rana bolavensis, loài thứ hai từ miền trung Lào vàmiền Trung Việt Nam là Rana orbavà miền bắc Lào là Rana heatwolei[33]; Tại khu bảo tồn thiên nhiên Xe Sáp miền nam Lào, Stuart đã công bố 1 loài lưỡng cư mới là Huia absita[39]; Cùng năm này Maasafumi Masui và đtg đã khảo sát mối qua hệ phát sinh bằng sinh học phân tử, sử dụng chuỗi mtDNA 12s và 16S rRNA và gen cyt-b để kiểm tra mối quan hệ phân loại giữa các quần thể của loàiMicrohyla ornata, từ Ấn Độ, Bangladesh, Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan và Quần đảo Ryukyu của Nhật Bản. kết quả loài cho thấy loài này được tách thành hai nhánh và có sự khác biệt về di truyền [24]. Bain và đtg đã ghi nhận 3 loài mới ở Lào và Việt Nam là Rana cucae, Rana vitrea và Rana compotrix[6].
Stuart và đtg đã ghi 5 download by : skknchat@gmail.com nhận loài Rana nigrotympanica ở Lào, đây là loài mà trước đây chỉ ghi nhận ở Trung Quốc. Năm 2007 Ohler đã công bố bài báo về các loài đồng danh được mô tả ở rang giới giữa các nước Trung Quốc, Lào và Việt Nam, từ đó cũng đưa ra một kết luận là khi công bố loài, cần phải biết các loài của nước láng giềng [29]. Teynié công bố ghi nhận phân bố mới loài Naja siamensis (Laurenti, 1768)ở Khu bảo tồn đa dạng sinh học quốc gia Xépian, tỉnh Champasak, miền nam Lào và nâng tổng số 37 loài rắn ở khu vực này [40]; Năm 2010 có 4 loài LC BS được công bố tại Lào là Leptolalax aereus được thu thập tại rừng trong khu khai thác mỏ Sepon, huyện Vilabouly, tỉnh Savannakhet bởi B. Năm 2011 Patrick David và đtg công bố loài Cyrtodactylus teyniei ở Borikhamxay, phát hiện này đã nâng tổng số loài thuộc giống Cyrtodactylus lên 7 loài ở Lào [10].
Năm 2012 có 2 loài mới được công bố ở Lào là Oligodon nagao được thu mẫu ở Việt Nam, Trung Quốc và tỉnh Kham Muội, miền trung của Lào và được công bố bởi các tác giả Patrick David và đtg [11]; loài thứ hai là Leptobrachium xanthopsđược thu thập tại Cao nguyên Dakchung, Núi Phou Ajol, Tỉnh Xe Kong Lào được thu thập bởi Stuart và cộng sự [18]. 6 download by : skknchat@gmail.com Năm 2013 Lưu Quang Vinh và đtg đã công bố bốn loài bò sát, được ghi nhận lần đầu tiên từ Lào: Cyrtodactylus phongnhakebangensis, Lycodon futsingensis, và L. ruhstrati, như từ các khu rừng đá vôi ở Kham muội và Cyrtodactylus pseudoquadrivirgatus từ rừng thường xanh trên đồi ở tỉnh Salavan. Những phát hiện của thằn lằn và rắn mang tổng số loài bò sát đến 189 tại Lào [19].
Masafumi đã công bố một loài mới của phân họ Vibrissaphora thuộc giốngLeptobrachium được mô tả từ phía đông của Lào, trên cơ sở bằng chứng phân tử và hình thái học[25]. Năm 2014 có 5 loài mới thuộc giống Cytodactylus được công bố tại Lào. Lưu Quang Vinh công bố loài thạch sùng mới là Cyrtodactylus jaegeri được thu thập tại tỉnh Khăm Muội, đây là loài thứ 9 thuộc giống Cyrtodactylus phát hiện từ Lào [21]. Nazarov và đtg đã công bố mới 4 loài mới thuộc giốngCyrtodactylus dựa trên kết quả phân tích phát sinh loài 673 bp của gen COI mtDNA và mô tả hình thái của các mẫu thu từ các tỉnh Kham Muội và Viên Chăn, Lào.
Ba loài mới là Cyrtodactylus khammouanensis; Cyrtodactylus darevskii; Cyrtodactylus multiporus được mô tả từ một khu vực nhỏ trong các khu rừng nhiệt đới gió mùa trên núi đá vôi ở vùng ven của làng Nahome, huyện Boulapha, tỉnh Khammouane, Trung Trường Sơn và loài Cyrtodactylus spelaeus được mô tả từ một hang động ở phía bắc của tỉnh Viêng Chăn của Lào[26]. Năm 2016 tác giả Lưu Quang Vinh và đtg công bố loài Cyrtodactylus bansocensistừ tỉnh Kham Muội, miền trung Lào dựa trên hình thái họccác và sinh học phân tử [20]. Tác giả Sivongxay và đtg công bố loài Theloderma lacustrinumở tỉnh Viêng Chăn, Lào[31]. Năm 2017, có nhiều bài báo công bố về LC BS ở Lào, Egert và đtgđã công bố ghi nhận mới loài Gracixalus quyeti dựa trên một mẫu được thu thập từ tỉnh Kham Muội, miền trung Lào.
So sánh với loài ở phía đông của dãy Trường Sơn ở Việt Namcho thấy đặc điểm di truyền gần như giống hệt nhau về 7 download by : skknchat@gmail.com trình tự, chỉ có khác biệt chút ít về tỷ lệ cơ thể [14].Manthey & Manthey trong 3 tập báo cáo về lương cư bò sát ở Lào, phần 1 báo cáo có 20 loài LC và BS ghi nhận được ở Phou Khao Khouay [23]; phần 2 ghi nhận 25 loài ở Lao Pako và Luông Nậm Tha [42]; phần 3 ghi nhận 18 loài ở tỉnh Champasak ở miền Nam Lào, tổng cộng qua 3 báo cáo Manthey & Manthey đã ghi nhận sự hiện diện của 41 loài, trong đó có 23 loài được quan sát ở miền trung Lào, 17 loài ở miền Nam và 17 loài ở miền Bắc. Năm loài đã được ghi nhận cho Lào lần đầu tiên [22]. Lịch sử nghiên cứu LC BS ở tỉnh Luông Nậm Tha, Lào Tỉnh Luangnamtha, một trong những tỉnh của Lào, có diện tích 9.600 dặm vuông) Tỉnh có biên giới với tỉnh Vân Nam, phía bắc giáp Trung Quốc, phía nam giáp tỉnh Oudomxai, phía đông nam và đông nam, thuộc tỉnh Bokeo phía tây nam, và Miến Điện ở phía tây [47]. Những nghiên cứu ở Luông Nậm Tha chưa nhiều; năm 2010 Nguyễn Quảng Trường và đtg đã công bố loài Cyrtodactylus wayakonei từ miền bắc Lào, dựa trên bốn mẫu vật từ tỉnh Luang Nam Tha[28], cùng năm đó tác giả Stuartđã phân tích hệ thống học phân tử của nhóm Amolop monticola và công bố loài mới Amolops akhaorum được thu thập từ tình tỉnh LuangNamtha[34].
Amolops akhaorum là một loài ếch thuộc họ Ranidae được phát hiện vào năm 2007 tại Khu Bảo tồn Quốc gia Nậm Hà, phía Tây Bắc Lào. Tên akhaorum cụ thể đề cập đến những người địa phương Akha đã giúp đỡ trong công việc điền dã của đội nghiên cứu đã khám phá ra loài này[34]. Năm 2017 trong báo cáo về đa dạng LC BS tại LàoManthey & Manthey đã công bố 12 loài lưỡng cư và 12 loài bò sát ở tỉnh Luông Nặm Tha [22]. Việc nghiên cứu về lưỡng cư, bò sát của Lào vẫn lẻ tẻ, chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về LC BS ở một khu vực nhất định.
Do đó, việc nghiên cứu khu hệ LC BS ở KBT Quốc gia Nặm Hà, huyện Nặmtha, tỉnh Luôangnamtha là hết sức cần thiết, nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học của 8 download by : skknchat@gmail.com khu vực này, làm cơ sở cho người dân biết tầm quan trọng để bảo vệ và phát triển các loài động vật, đặc biệt là LC BS. Điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội khu vực nghiên cứu Khu bảo tồn Quốc gia Nặm Hà bao gồm 222.300 ha rừng thường xanh, bán thường xanh và rừng lá rộng ở tỉnh Luang Namtha. Độ cao từ 560m đến 2094m (Tizard và cộng sự, 1997). NHNPA tiếp giáp với khu bảo tồn Shangyong thuộc Khu Bảo tồn Thiên nhiên Xishuangbanna ở miền nam Trung Quốc.
Các "khu bảo tồn lõi" được xác định bởi Tizard et al.