CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình tỉ số giói tính khi sinh 1. Khái niệm tỷ số giới tỉnh và tỉ so giới tỉnh khi sinh - Tỷ số giới tính: là một chỉ số cơ bản khi nói đến các phân tích và thống kê về cơ cấu dân số. Nếu chia tổng số dân thành dân số nam và dân số nữ thì ta có dân số theo giới tính.
Tỷ số giới tính của dân số là số luợng nam tính cho 100 nữ trong toàn bộ số dân đó. Tỷ số này thường dao động trong khoảng từ 95-105 nghĩa là có từ 95 đến 105 nam /100 nữ giới [1]. - Tỷ số giới tính khi sinh: là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá cơ cấu dân số, được tính bằng số bé trai sinh ra trên 100 bé gái trong một năm nhân (x) với 100 [24]. Tỷ lệ giới tính khi sinh thường cao hơn tỷ số giới tính của toàn bộ dân số.
Theo tự nhiên, tỷ số dao động quanh 104-106/100, rất ổn định qua thời gian và không gian, giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc [16]. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những sự can thiệp có chủ định. Neu tỷ số này vượt quá 107 thì coi là tỷ số giới tính tăng cao [24], 1. Tình hình TSGTKS trên thế giới TSGTKS ở các nước trên thế giới phần lớn dao động ở mức 104-106 trẻ trai/100 trẻ gái[ 10], Tuy nhiên, TSGTKS bắt đầu gia tăng ở một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Án Độ, từ cuối những năm 1970, cùng với sự xuất hiện của siêu âm và kỹ thuật chọc ối, giúp cho các cặp vợ chồng biết được giới tính của thai nhi.
TSGTKS ở một số vùng phía Đông Trung Quốc hay Tây Bắc Án Độ, có TSGTKS tăng liên tục từ những năm cuối của thập kỉ 80 và đạt mức cao trên 120 từ năm 2000 đến nay [33]. Theo tổng kết của Quỳ Dân số Liên Họp Quốc (UNFPA), Châu Á là nơi mất cân bằng giới tính cao nhất thế giới. Hiện tượng nam hoá trong dân số Châu Á lần đầu tiên được biết đến thông qua sự gia tăng tỷ số giới tính trong các quần thể trẻ em. Là chỉ báo về sự mất cân bằng giới tính, tỷ số giới tính ở trẻ em là kết quả của sự phân biệt đối xừ về giới trước và sau sinh.
Khi không có sự phân biệt về giới, tỷ số giới tính ở trẻ em thấp hơn TSGTKS. Chuẩn trung bình ở mức 105/100 do tỷ lệ tử vong ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái. Nhưng khi xem xét dân số Châu Á một cách tổng thể tỷ số giới tính ở trẻ em tăng lên trong nửa thế kỷ trở lại đây, 105/100 vào giữa năm 1950 lên đến 108/100 vào năm 2005[43]. Sự gia tăng của tỷ lệ trẻ em trai trong tổng số trẻ ở Châu Á chủ yếu do sự gia tăng tỷ số giới tính ở trẻ em tại khu vực Đông Á, trong khi đó tỷ số này tại khu vực Đông Nam Á và Tây Á lại hầu như bình thường [31].
Xu hướng này ở khu vực Đông Á bị chi phối chủ yếu bởi Trung Quốc và mức độ ít hơn là Hàn Quốc. Trong đó khu vực Trung Nam Á bị ảnh hưởng nhiều bởi Ấn Độ. Trong giai đoạn 2000-2005 TSGTKS đã lên tới 114/100 tại khu vực Đông Á do ảnh hưởng của Trung Quốc. Tại Trung Nam Á xu hướng này bị chi phối chủ yếu bởi Ấn Độ ở mức 107/100.
Trong giai đoạn 2000-2005 Trung Quốc và Hàn Quốc có TSGTKS ưên 110/100, Ấn Độ cũng rơi vào tình trạng tương tự với tỷ số ước là 108/100 [30],[44], 1. Tình hình TSGTKS tại Việt Nam 1. Một số đặc điêm cơ bản về dân sổ Việt Nam: • về quy mô dân số: Việt nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh. Năm 2000 dân số Việt Nam đạt 77,68 triệu người, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á, chỉ sau Inđônêxia và xếp thứ 13 trong tổng số hơn 200 nước ưên thế giới.
Tại thời điểm 1/4/2009 dân số Việt Nam đạt 85,789,573 người, đến tháng 7 năm 2011 đạt 90,594,390 người [31]. Ở Việt Nam mật độ dân số năm 2010 là 263 người/ km2, gần gấp 2 lần mật độ dần số của Trung Quốc - nước đông dân nhất nhất thế giới [32]. Từ năm 1999 đến năm 2009 tổng tỷ suất sinh giảm từ 2,33 con xuống 2,03 con, tỷ suất sinh thô đã giảm từ 19,9 %0 xuống còn 17,6 %0. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 1999 - 2009 giảm xuống còn 1,2 %, đạt mức thấp nhất trong nửa thế kỷ qua.
Kết quả giảm sinh đã làm thay đổi rõ rệt cơ cấu tuổi của dân số. Việt Nam bước vào giai I 6 đoạn cơ cấu dân số vàng là tiền đề tạo lợi thế so sánh về nguồn nhân lực để nền kinh tế cất cánh. Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đã giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết qủa giảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn một số tỉnh có tỷ sổ giới tính khi sinh cao như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định với TSGTKS trung bình vùng Đồng bằng sông Hồng là 116,2/100 năm 2010, do đó công tác dân số cần tiếp tục đẩy mạnh, làm chuyển đổi hành vi một cách bền vững trong việc thực hiện chuẩn mực gia đình ít con [32]. • Cơ cấu dân số: Cơ cấu dân số theo giới tính đang có xu hướng giảm dần theo xu hướng tăng nam, giảm nữ: Tỷ lệ nữ trên tổng số dân dao động trong khoảng từ 50,3 % đến 50,7% trong giai đoạn 1921- 1939, đến năm 1989 là 51,49% và giảm xuống 50,85% vào năm 1999, 50,57% năm 2009 [28], • Chất lượng dân số và phân bố dân cư: Nhìn một cách tổng quát chất lượng dân số Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Ở các vùng khó khăn, suy dinh dưỡng trẻ em còn ở mức rất cao; suy dinh dưỡng thể thấp còi còn tồn tại như một vất đề nghiêm trọng; ở các đô thị đã xuất hiện một tỷ lệ đáng kể trẻ bị thừa cân/béo phì. Tội phạm, tiêu cực xã hội tăng, trong đó có cả trẻ em đang là lỗi bức bối của xã hội. Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam (HDI) năm 2011 là 0,593 điểm, xếp hạng 128 trong số 162 quốc gia [35], [45]. Phân bổ dân cư nước ta nhìn chung là bất họp lí.
Dân số tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng (chiếm 42,8% dân số cả nước), trong khi đó diện tích của 2 vùng này chiếm 16,6% diện tích cả nước. Ngược lại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên dân cư thưa thớt. Mật độ dân số ở các tỉnh rất chênh lệch nhau: Năm 2010 bình quân dân số trên đất đai ở Thái Bình là 1140 người/ 1 km2, ở I Kom Turn chỉ có 46 người/ lkm2 (chênh lệch kém tới 40 lần). Cũng năm đó, mật độ dân số nước ta là 263 người/ km2, thuộc những nước có quy mô dân số lớn và mật độ cao [14], [10].
Tình hình mất cân bằng TSGTKS tại Việt Nam Trong giai đoạn 1939 - 1999, Việt Nam là một trong những nước có tỷ sổ giới tính thấp chỉ dao động quanh tỷ số 94-97/100, đây là giai đoạn chính sách dân số tập trung vào việc giảm sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống [9]. Tuy nhiên từ năm 2000 đến nay tỷ số giới tính đã thay đổi theo chiều hướng mất cân bằng ngày càng nghiêm trọng. Nếu như từ năm 2001 đến 2005 TSGTKS dao động quanh các tỷ số 109/100, 107/100, 108/100, 106/100 thì từ năm 2006 đến 2009 TSGTKS tăng lên 111 và dao Nguồn: Lương Quang Đảng (2011) [4] Năm 2011, tỷ số giới tính khi sinh duy trì ở mức khá cao với 111,9 bé trai/100 bé gái. Đặc biệt trong những năm gần đây một sổ tỉnh có TSGTKS rất cao như Hà Tây (114,9/100), Bắc Ninh (122,1/100), Hải Dương (120,3/100), Hưng Yên (130,7/100), Bắc Giang (118,2/100), Thanh Hoá (122,2/100),.
Năm 2007 có 31 tỉnh/thành có TSGTKS từ 110/100 đến 122/100 (hầu hết các tỉnh này nằm ở phía bắc). Trong 33 tỉnh, thành phố còn lại, có 17 tỉnh, thành phố có tỷ số giới tính dao động trong khoảng 108/100 đến dưới 110/100 [9]. Nhìn chung, TSGTKS trên toàn quốc đã vượt quá mức 8 bình thường và ở một số tỉnh, thành phố TSGTKS đã ở mức báo động cần quan tâm để tìm hiểu rõ các nguyên nhân, tác động của nó để có biện pháp điều chỉnh, can thiệp kịp thời [33]. Năm 2012, TSGTKS duy trì ở mức 113/100, các tỉnh thuộc khu vực phía bắc vẫn là những tỉnh thành có TSGTKS cao nhất như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh,.
6 tháng đầu năm 2013, tỷ số này giảm xuống 110/100 tuy nhiên xu hướng này chưa phải ổn định vì tỷ số này thường bị chi phối bởi “văn hóa sinh đẻ” của người dân. Các yếu tố ảnh hưởng tói giói tính khi sinh 1. Phong tục tập quán Việt Nam một xã hội Châu Á truyền thống mang nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ” với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đã thấm nhuần vào quan niệm của người dân vẫn còn tồn tại từ xưa đến nay. Đó là nguyên nhân sâu xa tạo nên sức ép tâm lý đối với phụ nữ chỉ sinh con gái[22], Tuy hiện nay chuẩn mực gia đình hai con được các gia đình chấp nhận, hầu hết các cặp vợ chồng đều chỉ muốn có hai con nhưng trong đó phải có ít nhất một con trai[44],.
Mọi người cho rằng con trai là rất quan trọng đối với các gia đình và con trai tiếp nổi dòng dõi, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha mẹ lúc họ về già. Sức ép nặng nề nhất được tác động từ bố mẹ chồng đặc biệt người phụ nữ làm dâu trưởng hay con dâu độc nhất trong gia đình không ít cha mẹ chồng trước khi qua đời vẫn một mực nuối tiếc vì chưa có cháu trai “nối dõi tông đường”, nhiều người chồng cũng đứng về phía cha mẹ mình gây sức ép đối với vợ.