Luận văn tìm hiểu quan niệm về lựa chọn giới tính trước sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh của phụ nữ chỉ có con gái tại trác văn duy tiên hà nam năm 2013

Luận văn phân tích quan niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh của phụ nữ có con gái tại Duy Tiên, Hà Nam năm 2013.

Chuyên ngành

Y Tế Công Cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ

2013

108
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình tỉ số giới tính khi sinh

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng tới giới tính khi sinh

1.3. Hậu quả của việc lựa chọn giới tính

1.4. Tổng quan một số nghiên cứu về tỷ số giới tính khi sinh

1.5. Tình hình tỷ số giới tính khi sinh tại xã Trác Văn, huyện Duy Tiên

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng nghiên cứu

2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.3. Thiết kế nghiên cứu

2.4. Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu

2.5. Biến số, chỉ số nghiên cứu

2.6. Phương pháp phân tích số liệu

2.7. Vấn đề đạo đức của nghiên cứu

2.8. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục sai số

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

3.2. Quan niệm của người dân về giới tính thai nhi và lựa chọn giới tính trước sinh

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Tình hình TSGTKS và các hành vi lựa chọn giới tính trước sinh

4.2. Bàn luận về phương pháp nghiên cứu

4.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn giới tính khi sinh

4.4. Các yếu tố liên quan khác

4.5. Hạn chế của nghiên cứu

4.6. Quan niệm về lựa chọn giới tính trước sinh

4.7. Các yếu tố liên quan đến hành vi lựa chọn giới tính khi sinh

4.8. Khuyến nghị về công tác truyền thông dân số - kế hoạch hóa gia đình

4.9. Khuyến nghị về thực hiện pháp luật

4.10. Thúc đẩy bình đẳng giới

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục 1: Hướng dẫn PVS với các bà mẹ

Phụ lục 2: Hướng dẫn PVS cán bộ y tế

Phụ lục 3: Hướng dẫn PVS bố mẹ chồng

Phụ lục 4: Hướng dẫn PVS người chồng

Phụ lục 5: Kinh phí nghiên cứu

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu lựa chọn giới tính trước sinh tại Trác Văn

Nghiên cứu lựa chọn giới tính trước sinh đang trở thành một vấn đề nóng bỏng tại nhiều địa phương, đặc biệt là tại xã Trác Văn, huyện Duy Tiên, Hà Nam. Tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh đã được ghi nhận với tỷ lệ 142 trẻ nam/100 trẻ nữ. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc dân số mà còn tác động sâu sắc đến tâm lý và xã hội của phụ nữ có con gái. Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu quan niệm và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh của phụ nữ chỉ có con gái tại địa phương này.

1.1. Tình hình tỷ số giới tính khi sinh tại Trác Văn

Tỷ số giới tính khi sinh tại Trác Văn đang ở mức cao, cho thấy sự chênh lệch rõ rệt giữa số lượng trẻ trai và trẻ gái. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ này đã vượt qua mức bình thường, gây ra nhiều lo ngại về sự phát triển bền vững của xã hội.

1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh

Nhiều yếu tố như tâm lý xã hội, phong tục tập quán và áp lực từ gia đình đã tác động mạnh mẽ đến quyết định lựa chọn giới tính trước sinh của phụ nữ. Sự ưu tiên con trai trong văn hóa truyền thống vẫn còn tồn tại, tạo ra sức ép lớn đối với các cặp vợ chồng.

II. Vấn đề và thách thức trong lựa chọn giới tính trước sinh

Việc lựa chọn giới tính trước sinh không chỉ là một vấn đề cá nhân mà còn là một thách thức lớn đối với xã hội. Tình trạng này dẫn đến sự mất cân bằng giới tính, ảnh hưởng đến cấu trúc gia đình và xã hội. Phụ nữ có con gái thường phải đối mặt với nhiều áp lực từ gia đình và xã hội, điều này có thể dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng trong tương lai.

2.1. Áp lực xã hội đối với phụ nữ có con gái

Phụ nữ có con gái thường phải chịu áp lực từ gia đình và xã hội, dẫn đến tâm lý tự ti và cảm giác không hoàn thành trách nhiệm. Điều này có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý và thể chất của họ.

2.2. Hệ lụy của việc mất cân bằng giới tính

Mất cân bằng giới tính có thể dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội như gia tăng tội phạm, mại dâm và các vấn đề liên quan đến sức khỏe sinh sản. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc cần có các biện pháp can thiệp kịp thời.

III. Phương pháp nghiên cứu lựa chọn giới tính trước sinh

Nghiên cứu này sử dụng phương pháp định tính để thu thập dữ liệu từ các bà mẹ chỉ có con gái tại xã Trác Văn. Các cuộc phỏng vấn sâu được thực hiện với sự tham gia của nhiều đối tượng liên quan như chồng, bố mẹ chồng và cán bộ y tế. Phương pháp này giúp làm rõ hơn về quan niệm và hành vi lựa chọn giới tính trước sinh.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thiết kế với sự tham gia của các bà mẹ chỉ có con gái, nhằm tìm hiểu sâu về quan niệm và hành vi của họ trong việc lựa chọn giới tính trước sinh.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, sau đó được phân tích để rút ra các kết luận về các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng tư tưởng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại mạnh mẽ tại Trác Văn. Nhiều phụ nữ cho biết họ cảm thấy áp lực phải sinh con trai, dẫn đến việc lựa chọn giới tính trước sinh. Những kết quả này có thể được sử dụng để xây dựng các chương trình truyền thông và giáo dục nhằm thay đổi quan niệm về giới tính trong xã hội.

4.1. Quan niệm của phụ nữ về giới tính thai nhi

Phụ nữ tại Trác Văn thường có quan niệm rằng con trai là cần thiết để duy trì dòng tộc và chăm sóc cha mẹ khi về già. Điều này dẫn đến việc họ sẵn sàng lựa chọn giới tính trước sinh.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng để xây dựng các chương trình giáo dục và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về bình đẳng giới và giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu

Nghiên cứu về lựa chọn giới tính trước sinh tại Trác Văn đã chỉ ra rằng cần có những biện pháp can thiệp kịp thời để giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính. Việc thay đổi quan niệm xã hội về giới tính là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững cho cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc thay đổi quan niệm xã hội

Thay đổi quan niệm xã hội về giới tính là một yếu tố quan trọng để giảm thiểu tình trạng mất cân bằng giới tính. Cần có các chương trình giáo dục và truyền thông để nâng cao nhận thức của cộng đồng.

5.2. Đề xuất các biện pháp can thiệp

Cần có các biện pháp can thiệp từ chính quyền và các tổ chức xã hội để hỗ trợ phụ nữ và gia đình trong việc lựa chọn giới tính một cách tự nhiên và bình đẳng.

14/07/2025
Luận văn tìm hiểu quan niệm về lựa chọn giới tính trước sinh và các yếu tố ảnh hưởng đến lựa chọn giới tính trước sinh của phụ nữ chỉ có con gái tại trác văn duy tiên hà nam năm 2013

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình tỉ số giói tính khi sinh 1. Khái niệm tỷ số giới tỉnh và tỉ so giới tỉnh khi sinh - Tỷ số giới tính: là một chỉ số cơ bản khi nói đến các phân tích và thống kê về cơ cấu dân số. Nếu chia tổng số dân thành dân số nam và dân số nữ thì ta có dân số theo giới tính.

Tỷ số giới tính của dân số là số luợng nam tính cho 100 nữ trong toàn bộ số dân đó. Tỷ số này thường dao động trong khoảng từ 95-105 nghĩa là có từ 95 đến 105 nam /100 nữ giới [1]. - Tỷ số giới tính khi sinh: là một trong những chỉ số quan trọng để đánh giá cơ cấu dân số, được tính bằng số bé trai sinh ra trên 100 bé gái trong một năm nhân (x) với 100 [24]. Tỷ lệ giới tính khi sinh thường cao hơn tỷ số giới tính của toàn bộ dân số.

Theo tự nhiên, tỷ số dao động quanh 104-106/100, rất ổn định qua thời gian và không gian, giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc [16]. Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của tỷ số này chệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những sự can thiệp có chủ định. Neu tỷ số này vượt quá 107 thì coi là tỷ số giới tính tăng cao [24], 1. Tình hình TSGTKS trên thế giới TSGTKS ở các nước trên thế giới phần lớn dao động ở mức 104-106 trẻ trai/100 trẻ gái[ 10], Tuy nhiên, TSGTKS bắt đầu gia tăng ở một số quốc gia châu Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Án Độ, từ cuối những năm 1970, cùng với sự xuất hiện của siêu âm và kỹ thuật chọc ối, giúp cho các cặp vợ chồng biết được giới tính của thai nhi.

TSGTKS ở một số vùng phía Đông Trung Quốc hay Tây Bắc Án Độ, có TSGTKS tăng liên tục từ những năm cuối của thập kỉ 80 và đạt mức cao trên 120 từ năm 2000 đến nay [33]. Theo tổng kết của Quỳ Dân số Liên Họp Quốc (UNFPA), Châu Á là nơi mất cân bằng giới tính cao nhất thế giới. Hiện tượng nam hoá trong dân số Châu Á lần đầu tiên được biết đến thông qua sự gia tăng tỷ số giới tính trong các quần thể trẻ em. Là chỉ báo về sự mất cân bằng giới tính, tỷ số giới tính ở trẻ em là kết quả của sự phân biệt đối xừ về giới trước và sau sinh.

Khi không có sự phân biệt về giới, tỷ số giới tính ở trẻ em thấp hơn TSGTKS. Chuẩn trung bình ở mức 105/100 do tỷ lệ tử vong ở trẻ em trai cao hơn trẻ em gái. Nhưng khi xem xét dân số Châu Á một cách tổng thể tỷ số giới tính ở trẻ em tăng lên trong nửa thế kỷ trở lại đây, 105/100 vào giữa năm 1950 lên đến 108/100 vào năm 2005[43]. Sự gia tăng của tỷ lệ trẻ em trai trong tổng số trẻ ở Châu Á chủ yếu do sự gia tăng tỷ số giới tính ở trẻ em tại khu vực Đông Á, trong khi đó tỷ số này tại khu vực Đông Nam Á và Tây Á lại hầu như bình thường [31].

Xu hướng này ở khu vực Đông Á bị chi phối chủ yếu bởi Trung Quốc và mức độ ít hơn là Hàn Quốc. Trong đó khu vực Trung Nam Á bị ảnh hưởng nhiều bởi Ấn Độ. Trong giai đoạn 2000-2005 TSGTKS đã lên tới 114/100 tại khu vực Đông Á do ảnh hưởng của Trung Quốc. Tại Trung Nam Á xu hướng này bị chi phối chủ yếu bởi Ấn Độ ở mức 107/100.

Trong giai đoạn 2000-2005 Trung Quốc và Hàn Quốc có TSGTKS ưên 110/100, Ấn Độ cũng rơi vào tình trạng tương tự với tỷ số ước là 108/100 [30],[44], 1. Tình hình TSGTKS tại Việt Nam 1. Một số đặc điêm cơ bản về dân sổ Việt Nam: • về quy mô dân số: Việt nam là một quốc gia có quy mô dân số lớn, tốc độ phát triển dân số ngày càng nhanh. Năm 2000 dân số Việt Nam đạt 77,68 triệu người, đứng thứ 2 ở Đông Nam Á, chỉ sau Inđônêxia và xếp thứ 13 trong tổng số hơn 200 nước ưên thế giới.

Tại thời điểm 1/4/2009 dân số Việt Nam đạt 85,789,573 người, đến tháng 7 năm 2011 đạt 90,594,390 người [31]. Ở Việt Nam mật độ dân số năm 2010 là 263 người/ km2, gần gấp 2 lần mật độ dần số của Trung Quốc - nước đông dân nhất nhất thế giới [32]. Từ năm 1999 đến năm 2009 tổng tỷ suất sinh giảm từ 2,33 con xuống 2,03 con, tỷ suất sinh thô đã giảm từ 19,9 %0 xuống còn 17,6 %0. Tỷ lệ tăng dân số bình quân giai đoạn 1999 - 2009 giảm xuống còn 1,2 %, đạt mức thấp nhất trong nửa thế kỷ qua.

Kết quả giảm sinh đã làm thay đổi rõ rệt cơ cấu tuổi của dân số. Việt Nam bước vào giai I 6 đoạn cơ cấu dân số vàng là tiền đề tạo lợi thế so sánh về nguồn nhân lực để nền kinh tế cất cánh. Mặc dù tỷ lệ giảm sinh vừa qua đã giảm và còn tiếp tục giảm, nhưng kết qủa giảm sinh chưa thật sự vững chắc, còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ gia tăng dân số nhanh trở lại, tư tưởng trọng nam khinh nữ có chuyển biến nhưng vẫn còn một số tỉnh có tỷ sổ giới tính khi sinh cao như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nam Định với TSGTKS trung bình vùng Đồng bằng sông Hồng là 116,2/100 năm 2010, do đó công tác dân số cần tiếp tục đẩy mạnh, làm chuyển đổi hành vi một cách bền vững trong việc thực hiện chuẩn mực gia đình ít con [32]. • Cơ cấu dân số: Cơ cấu dân số theo giới tính đang có xu hướng giảm dần theo xu hướng tăng nam, giảm nữ: Tỷ lệ nữ trên tổng số dân dao động trong khoảng từ 50,3 % đến 50,7% trong giai đoạn 1921- 1939, đến năm 1989 là 51,49% và giảm xuống 50,85% vào năm 1999, 50,57% năm 2009 [28], • Chất lượng dân số và phân bố dân cư: Nhìn một cách tổng quát chất lượng dân số Việt Nam còn thấp, chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

Ở các vùng khó khăn, suy dinh dưỡng trẻ em còn ở mức rất cao; suy dinh dưỡng thể thấp còi còn tồn tại như một vất đề nghiêm trọng; ở các đô thị đã xuất hiện một tỷ lệ đáng kể trẻ bị thừa cân/béo phì. Tội phạm, tiêu cực xã hội tăng, trong đó có cả trẻ em đang là lỗi bức bối của xã hội. Chỉ số phát triển con người ở Việt Nam (HDI) năm 2011 là 0,593 điểm, xếp hạng 128 trong số 162 quốc gia [35], [45]. Phân bổ dân cư nước ta nhìn chung là bất họp lí.

Dân số tập trung chủ yếu ở đồng bằng Sông Cửu Long và đồng bằng Sông Hồng (chiếm 42,8% dân số cả nước), trong khi đó diện tích của 2 vùng này chiếm 16,6% diện tích cả nước. Ngược lại miền núi phía Bắc và Tây Nguyên dân cư thưa thớt. Mật độ dân số ở các tỉnh rất chênh lệch nhau: Năm 2010 bình quân dân số trên đất đai ở Thái Bình là 1140 người/ 1 km2, ở I Kom Turn chỉ có 46 người/ lkm2 (chênh lệch kém tới 40 lần). Cũng năm đó, mật độ dân số nước ta là 263 người/ km2, thuộc những nước có quy mô dân số lớn và mật độ cao [14], [10].

Tình hình mất cân bằng TSGTKS tại Việt Nam Trong giai đoạn 1939 - 1999, Việt Nam là một trong những nước có tỷ sổ giới tính thấp chỉ dao động quanh tỷ số 94-97/100, đây là giai đoạn chính sách dân số tập trung vào việc giảm sinh và nâng cao chất lượng cuộc sống [9]. Tuy nhiên từ năm 2000 đến nay tỷ số giới tính đã thay đổi theo chiều hướng mất cân bằng ngày càng nghiêm trọng. Nếu như từ năm 2001 đến 2005 TSGTKS dao động quanh các tỷ số 109/100, 107/100, 108/100, 106/100 thì từ năm 2006 đến 2009 TSGTKS tăng lên 111 và dao Nguồn: Lương Quang Đảng (2011) [4] Năm 2011, tỷ số giới tính khi sinh duy trì ở mức khá cao với 111,9 bé trai/100 bé gái. Đặc biệt trong những năm gần đây một sổ tỉnh có TSGTKS rất cao như Hà Tây (114,9/100), Bắc Ninh (122,1/100), Hải Dương (120,3/100), Hưng Yên (130,7/100), Bắc Giang (118,2/100), Thanh Hoá (122,2/100),.

Năm 2007 có 31 tỉnh/thành có TSGTKS từ 110/100 đến 122/100 (hầu hết các tỉnh này nằm ở phía bắc). Trong 33 tỉnh, thành phố còn lại, có 17 tỉnh, thành phố có tỷ số giới tính dao động trong khoảng 108/100 đến dưới 110/100 [9]. Nhìn chung, TSGTKS trên toàn quốc đã vượt quá mức 8 bình thường và ở một số tỉnh, thành phố TSGTKS đã ở mức báo động cần quan tâm để tìm hiểu rõ các nguyên nhân, tác động của nó để có biện pháp điều chỉnh, can thiệp kịp thời [33]. Năm 2012, TSGTKS duy trì ở mức 113/100, các tỉnh thuộc khu vực phía bắc vẫn là những tỉnh thành có TSGTKS cao nhất như Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh,.

6 tháng đầu năm 2013, tỷ số này giảm xuống 110/100 tuy nhiên xu hướng này chưa phải ổn định vì tỷ số này thường bị chi phối bởi “văn hóa sinh đẻ” của người dân. Các yếu tố ảnh hưởng tói giói tính khi sinh 1. Phong tục tập quán Việt Nam một xã hội Châu Á truyền thống mang nặng tư tưởng “trọng nam khinh nữ” với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu đã thấm nhuần vào quan niệm của người dân vẫn còn tồn tại từ xưa đến nay. Đó là nguyên nhân sâu xa tạo nên sức ép tâm lý đối với phụ nữ chỉ sinh con gái[22], Tuy hiện nay chuẩn mực gia đình hai con được các gia đình chấp nhận, hầu hết các cặp vợ chồng đều chỉ muốn có hai con nhưng trong đó phải có ít nhất một con trai[44],.

Mọi người cho rằng con trai là rất quan trọng đối với các gia đình và con trai tiếp nổi dòng dõi, thờ cúng tổ tiên và chăm sóc cha mẹ lúc họ về già. Sức ép nặng nề nhất được tác động từ bố mẹ chồng đặc biệt người phụ nữ làm dâu trưởng hay con dâu độc nhất trong gia đình không ít cha mẹ chồng trước khi qua đời vẫn một mực nuối tiếc vì chưa có cháu trai “nối dõi tông đường”, nhiều người chồng cũng đứng về phía cha mẹ mình gây sức ép đối với vợ.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Nghiên cứu lựa chọn giới tính trước sinh và ảnh hưởng đến phụ nữ có con gái tại Trác Văn, Duy Tiên, Hà Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề lựa chọn giới tính trước sinh và những tác động của nó đến phụ nữ có con gái trong khu vực này. Nghiên cứu không chỉ phân tích các yếu tố xã hội, văn hóa và kinh tế ảnh hưởng đến quyết định này mà còn chỉ ra những hệ lụy lâu dài đối với sức khỏe tâm lý và vị thế xã hội của phụ nữ.

Độc giả sẽ tìm thấy nhiều thông tin hữu ích từ tài liệu này, giúp họ hiểu rõ hơn về những thách thức mà phụ nữ phải đối mặt trong bối cảnh lựa chọn giới tính. Để mở rộng kiến thức về vấn đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu "Luận văn thạc sĩ ussh truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in khảo sát báo gia đình và xã hội phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012 tháng 6 2014". Tài liệu này sẽ cung cấp thêm góc nhìn về sự mất cân bằng giới tính khi sinh và cách mà truyền thông đã phản ánh vấn đề này trong xã hội Việt Nam.

Việc tìm hiểu sâu hơn về các khía cạnh này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về những vấn đề liên quan đến giới tính và sức khỏe phụ nữ trong xã hội hiện đại.