Luận văn thạc sĩ về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in tại Việt Nam (2012-2014)

Nghiên cứu về mất cân bằng giới tính khi sinh qua báo gia đình và xã hội, tập trung vào phụ nữ Việt Nam và Thủ đô giai đoạn 2012-2014.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ VÀ GIỚI TÍNH KHI SINH

1.1. Báo chí và chức năng của báo chí

1.2. Đặc điểm, nguyên nhân và hệ lụy của mất cân bằng giới tính khi sinh

1.3. Lý thuyết về giới và phát triển

1.4. Quan điểm của Đảng, Nhà nước về bình đẳng giới và kiểm soát thực trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

1.5. Báo chí với công tác truyền thông về dân số và vấn đề MCBGTKS

1.6. Tăng cường phổ biến, giáo dục chính sách pháp luật

1.7. Nâng cao hiệu quả thông tin cho lãnh đạo các cấp

1.8. Nâng cao hiệu quả các hoạt động truyền thông

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHẢN ÁNH TRÊN BÁO IN VỀ VẤN ĐỀ MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

2.1. Giới thiệu khái quát 3 tờ báo khảo sát

2.2. Báo Gia đình và Xã hội

2.3. Báo Phụ nữ Việt Nam

2.4. Báo Phụ nữ thủ đô

2.5. Thực trạng phản ánh vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo Gia đình và Xã hội, Phụ nữ Việt Nam, Phụ nữ thủ đô từ 6/2012 đến tháng 6-2014

2.5.1. Nội dung thông tin

2.5.2. Hình thức thông tin

2.5.3. Đánh giá mặt được và chưa được của báo chí trong truyền thông kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

2.6. Khảo sát ý kiến độc giả về hiệu quả thông tin vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in

2.7. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRUYỀN THÔNG TRÊN BÁO IN VỀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT MẤT CÂN BẰNG GIỚI TÍNH KHI SINH

3.1. Nâng cao chất lượng nội dung truyền thông

3.2. Đổi mới hình thức thể hiện

3.3. Đổi mới cách tiếp cận, khai thác thông tin

3.4. Ngành Dân số, Y tế cần chủ động tổ chức cung cấp thông tin về MCBGTKS

3.5. Nhóm giải pháp phối hợp

3.6. Đầu tư nguồn lực

3.6.1. Đầu tư nguồn lực về công nghệ

3.6.2. Đầu tư nguồn lực về nhân sự

3.7. Tiểu kết chương 3

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam

Mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) là một vấn đề nghiêm trọng tại Việt Nam, ảnh hưởng đến cấu trúc dân số và xã hội. Tình trạng này đã được ghi nhận từ năm 1999, nhưng chỉ thực sự trở nên nghiêm trọng từ năm 2006 với tỷ số giới tính khi sinh (TSGTKS) tăng cao. Theo số liệu, hiện nay tỷ lệ này là 113/100, cho thấy sự ưa thích con trai trong xã hội. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng MCBGTKS không chỉ là vấn đề dân số mà còn là thách thức lớn về mặt xã hội và kinh tế.

1.1. Định nghĩa và ý nghĩa của mất cân bằng giới tính khi sinh

MCBGTKS được định nghĩa là tình trạng tỷ lệ giới tính khi sinh không đạt mức cân bằng tự nhiên. Điều này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy xã hội, như sự thiếu hụt phụ nữ trong tương lai, gia tăng bạo lực giới tính và các vấn đề xã hội khác. Việc hiểu rõ về MCBGTKS là cần thiết để có những biện pháp can thiệp kịp thời.

1.2. Lịch sử và diễn biến của tình trạng MCBGTKS tại Việt Nam

Tình trạng MCBGTKS tại Việt Nam đã diễn ra từ những năm 1990, nhưng chỉ thực sự trở nên nghiêm trọng từ năm 2006. Các số liệu cho thấy tỷ lệ TSGTKS đã tăng nhanh chóng, với nhiều năm ghi nhận mức tăng lên tới 1 điểm phần trăm. Điều này đã thu hút sự chú ý của chính phủ và các tổ chức quốc tế.

II. Vấn đề và thách thức trong việc kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực từ chính phủ và các tổ chức xã hội, nhưng việc kiểm soát MCBGTKS vẫn gặp nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự ưa thích con trai trong văn hóa và xã hội Việt Nam. Điều này dẫn đến việc nhiều gia đình chọn lựa giới tính khi sinh, gây ra tình trạng MCBGTKS nghiêm trọng.

2.1. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến MCBGTKS, bao gồm văn hóa truyền thống ưa thích con trai, sự thiếu hụt thông tin về bình đẳng giới, và các chính sách dân số không hiệu quả. Những yếu tố này đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho việc lựa chọn giới tính khi sinh.

2.2. Hệ lụy xã hội của mất cân bằng giới tính khi sinh

MCBGTKS không chỉ ảnh hưởng đến cấu trúc dân số mà còn gây ra nhiều hệ lụy xã hội nghiêm trọng. Sự thiếu hụt phụ nữ có thể dẫn đến gia tăng bạo lực giới tính, sự phân biệt đối xử và các vấn đề xã hội khác. Điều này đặt ra thách thức lớn cho chính phủ và xã hội trong việc duy trì sự ổn định.

III. Phương pháp nghiên cứu và giải pháp kiểm soát MCBGTKS hiệu quả

Để kiểm soát MCBGTKS, cần áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu và giải pháp đồng bộ. Việc nâng cao nhận thức cộng đồng về bình đẳng giới và các chính sách hỗ trợ cho phụ nữ là rất quan trọng. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc giáo dục và truyền thông có thể giúp thay đổi hành vi và nhận thức của người dân.

3.1. Các phương pháp nghiên cứu về MCBGTKS

Nghiên cứu về MCBGTKS có thể được thực hiện thông qua các phương pháp định lượng và định tính. Việc thu thập dữ liệu từ các cuộc khảo sát, phỏng vấn và phân tích số liệu thống kê là cần thiết để hiểu rõ hơn về tình trạng này.

3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông về MCBGTKS

Để nâng cao hiệu quả truyền thông, cần có các chiến dịch tuyên truyền mạnh mẽ về bình đẳng giới và giá trị của trẻ em gái. Các phương tiện truyền thông cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng để đưa ra thông điệp rõ ràng và hiệu quả.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về MCBGTKS

Các nghiên cứu về MCBGTKS đã chỉ ra rằng việc áp dụng các giải pháp đồng bộ có thể giúp giảm thiểu tình trạng này. Nhiều chương trình đã được triển khai nhằm nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng. Kết quả cho thấy rằng sự tham gia của các tổ chức xã hội và chính phủ là rất quan trọng.

4.1. Kết quả từ các chương trình can thiệp về MCBGTKS

Nhiều chương trình can thiệp đã được triển khai và cho thấy hiệu quả tích cực trong việc giảm tỷ lệ MCBGTKS. Các chương trình này bao gồm giáo dục cộng đồng, hỗ trợ tài chính cho gia đình có con gái và các chiến dịch truyền thông.

4.2. Vai trò của báo chí trong việc nâng cao nhận thức về MCBGTKS

Báo chí đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức về MCBGTKS. Các bài viết, phỏng vấn và chương trình truyền hình đã giúp người dân hiểu rõ hơn về vấn đề này và khuyến khích họ tham gia vào các hoạt động giảm thiểu MCBGTKS.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho nghiên cứu MCBGTKS

Kết luận từ các nghiên cứu cho thấy rằng MCBGTKS là một vấn đề nghiêm trọng cần được giải quyết ngay lập tức. Các giải pháp cần được triển khai đồng bộ và có sự tham gia của toàn xã hội. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng.

5.1. Tầm quan trọng của việc tiếp tục nghiên cứu về MCBGTKS

Việc tiếp tục nghiên cứu về MCBGTKS là rất cần thiết để hiểu rõ hơn về tình trạng này và tìm ra các giải pháp hiệu quả. Các nghiên cứu cần được thực hiện thường xuyên để theo dõi diễn biến và đánh giá hiệu quả của các chương trình can thiệp.

5.2. Đề xuất các chính sách hỗ trợ cho việc kiểm soát MCBGTKS

Các chính sách hỗ trợ cần được xây dựng dựa trên các nghiên cứu và thực tiễn. Cần có các chương trình giáo dục, hỗ trợ tài chính và các chiến dịch truyền thông để nâng cao nhận thức và thay đổi hành vi của cộng đồng.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in khảo sát báo gia đình và xã hội phụ nữ việt nam và phụ nữ thủ đô từ tháng 6 2012 tháng 6 2014

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về báo chí và giới tính khi sinh trong cơ cấu dân số Chương 2: Thực trạng truyền thông về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh trên báo in Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông trên báo in về vấn đề kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRUYỀN THÔNG BÁO CHÍ VÀ GIỚI TÍNH KHI SINH 1. Báo chí và chức năng của báo chí 1. Các khái niệm Báo chí Báo chí hiện đại có thể được hiểu là những ấn phẩm xuất bản định kỳ (hoặc không định kỳ như báo mạng điện tử), được sản xuất với khối lượng lớn, phát hành rộng rãi đến đông đảo công chúng.

Khái niệm báo chí theo nghĩa rộng cũng được dùng để chỉ các sản phẩm phát hành thông qua các loại hình báo in, báo phát thanh, truyền hình và báo mạng điện tử. Truyền thông đại chúng (TTĐC), nhìn từ phương tiện chuyển tải thông điệp, là hệ thống các kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội để thông tin và chia sẻ tư tưởng, tình cảm, kỹ năng và kinh nghiệm…, giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đã và đang đặt ra. Như vậy TTĐC bao gồm báo chí và các kênh truyền thông khác như sách, điện ảnh, các phương tiện nghe – nhìn, pano – áp phích… Cũng là những kênh TTĐC, nhưng do tính chất và đặc trưng vốn có của mình, báo chí chiếm vị trí trung tâm, nền tảng và có vai trò chi phối, quyết định khuynh hướng, sức mạnh TTĐC nói chung. Do đó, trong nhiều trường hợp, người ta dùng khái niệm báo chí để chỉ các phương tiện TTĐC, và ngược lại, khi nói TTĐC thì trước hết và chủ yếu cũng nói đến báo chí.

[1,5] Báo in “Báo in là những ấn phẩm xuất bản định kỳ, chuyển tải nội dung thông tin bằng chữ viết, hình ảnh và các ngôn ngữ phi văn tự, thông tin về các sự 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kiện và vấn đề thời sự, phát hành rộng rãi và định kỳ nhằm phục vụ công chúng, nhóm đối tượng nào đó với mục đích nhất định”. [2, 101] Báo in là hình thức truyền thống và lâu đời nhất của báo chí. Đặc điểm, nguyên nhân và hệ luỵ của mất cân bằng giới tính khi sinh 1. Các khái niệm Để tìm hiểu về vấn đề truyền thông về mất cân bằng giới tính khi sinh (MCBGTKS) trước hết phải thống nhất khái niệm.

Chúng tôi xin được giới thiệu một số khái niệm cơ bản, thường được sử dụng khi đề cập đến vấn đề này. Giới (Sex) Theo định nghĩa của tổ chức Y tế thế giới WHO, “Giới là sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới dựa trên những mong đợi, giá trị và chuẩn mực xã hội”. Sự khác nhau giữa con trai và con gái không phải xuất phát từ sự khác biệt trong sinh lý, giải phẫu hay năng lực của con trai và con gái mà hoàn toàn là dựa trên sự mong đợi của xã hội, sự đánh giá của xã hội về năng lực và giá trị khác nhau của con trai và con gái. Tương tự như vậy, con trai thường được hưởng nhiều quyền lợi trong gia đình hơn con gái do con trai được coi trọng hơn.

Chính sự mong đợi và đánh giá khác nhau này là nguồn gốc của bất bình đẳng giới trong xã hội. Giới tính (Gender) Cũng theo WHO, định nghĩa về giới tính được hiểu như sau: “Giới tính là sự khác nhau giữa nam và nữ về mặt sinh học. Giới tính là một khái niệm khoa học ra đời từ môn sinh học, chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học. Sự khác biệt này chủ yếu liên quan tới quá trình sinh đẻ và di truyền nòi giống.

Con người khi sinh ra đã có những đặc điểm về giới tính (nam hay nữ)”. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giới tính khi sinh là chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về mặt sinh học của trẻ em khi sinh. Tỷ số giới tính (Sex Ratio) Nếu phân chia toàn bộ dân số thành hai bộ phận là dân số nam và dân số nữ thì có cơ cấu dân số theo giới tính. Trong nghiên cứu dân số, tiêu thức phân chia này có ý nghĩa hết sức quan trọng.

Cơ cấu giới tính được xác định thông qua “Tỷ số giới tính” hay tỷ lệ nam hoặc nữ trong tổng số dân. Tỷ số giới tính được định nghĩa là số lượng nam giới trên 100 nữ giới. Kể từ năm 1960 đến nay, tỷ số giới tính của dân số Việt Nam luôn nhỏ hơn 100. Tình trạng này là do nam giới có mức tử vong trội hơn và chịu ảnh hưởng nặng nề của các cuộc chiến tranh chống xâm lược từ những năm 40 đến cuối những năm 70 của thế kỷ trước.

Tỷ số (Ratio) quan hệ giữa một phân nhóm dân số này với một phân nhóm dân số khác thuộc cùng một dân số, tức là một phân nhóm này chia cho một phân nhóm khác. Tỷ lệ (Proportion) quan hệ so sánh một phân nhóm dân số với toàn bộ dân số, tức là một phân nhóm dân số chia cho toàn bộ dân số. Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth) Tỷ số giới tính khi sinh (Sex ratio at birth – SRB) được xác định bằng số trẻ em trai sinh ra sống trên 100 trẻ em gái sinh ra sống trong một năm. Mức sinh học bình thường được xem là cứ 100 bé gái được sinh ra sẽ có tương ứng khoảng 103 đến 106 bé trai và nhìn chung là rất ổn định qua thời gian và không gian giữa các châu lục, quốc gia, khu vực và chủng tộc người.

Bất kỳ sự thay đổi đáng kể nào của TSGTKS chênh lệch khỏi mức sinh học bình thường đều phản ánh những can thiệp có chủ ý ở một mức độ nào đó và sẽ làm ảnh hưởng đến sự mất cân bằng tự nhiên, đe dọa sự ổn định dân số toàn cầu. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com TSGTKS tăng cao hoặc giảm quá thấp sẽ tác động trực tiếp đến tỷ số giới tính của các nhóm tuổi và toàn bộ dân số. + Tỷ số giới tính khi sinh theo thứ tự sinh Để nghiên cứu chi tiết hơn hiện trạng và sự thay đổi TSGTKS, người ta quan tâm đến các thông tin về giới tính của trẻ em theo thứ tự sinh. Ở Việt Nam, TSGTKS của trẻ đầu lòng khá cao và ở tất cả các thời kỳ, nó đều cao hơn giá trị trung bình.

Nói chung, TSGTKS của những đứa con thứ hai đều có giá trị thấp nhất và giá trị này tăng dần theo lần sinh thứ 3 và thứ 4. Mất cân bằng giới tính khi sinh (Imbalanced sex ratio at birth) Mất cân bằng giới tính khi sinh là số trẻ trai sinh ra còn sống cao hơn hoặc thấp hơn ngưỡng bình thường so với 100 trẻ gái. MCBGTKS xảy ra khi tỷ số giới tính nam khi sinh lớn hơn 106 hoặc nhỏ hơn 103 so với 100 trẻ nữ. Theo quy ước, TSGTKS ở một vùng/thành phố từ 110 trở lên là MCBGTKS.

Cơ cấu dân số (Population Structure) Cơ cấu dân số là tổng số dân được phân loại theo giới tính, độ tuổi, dân tộc, trình độ học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân và các đặc trưng khác. (Pháp lệnh dân số) Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trang hôn nhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn… Việc nghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân số của một địa phương. Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và cơ cấu giới tính. Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhóm dân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức chết, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hôn nhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần tuý, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh xã hội.

 Cơ cấu dân số theo tuổi 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhất định. Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hình sinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia. Có hai loại cơ cấu dân số theo tuổi: - Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia thành ba nhóm tuổi: + Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi + Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi) + Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên.

Số người trong nhóm tuổi lao động là nguồn nhân lực quan trọng, là vốn quý của quốc gia, cần phải sử dụng số người trong nhóm tuổi này một cách tối ưu để tạo ra sức sản xuất cao nhất cho xã hội. Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già hay trẻ. - Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau. Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theo khoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm.

 Cơ cấu dân số theo giới Cơ cấu dân số theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khu vực. Thông thường ở những nước phát triển, nữ nhiều hơn nam; ngược lại, ở các nước đang phát triển, nam nhiều hơn nữ. Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chiến tranh, do tai nạn, do tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam và do chuyển cư. Cơ cấu theo giới có ảnh hưởng đến sự phân bố sản xuất, tổ chức đời sống xã hội và hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia.

Khi phân tích cơ cấu theo giới, người ta không chỉ chú ý tới khía cạnh sinh học, mà còn quan tâm tới khía cạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên cứu mất cân bằng giới tính khi sinh qua báo chí tại Việt Nam (2012-2014)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vấn đề mất cân bằng giới tính khi sinh tại Việt Nam, một hiện tượng đang gây ra nhiều lo ngại trong xã hội. Nghiên cứu này phân tích cách mà báo chí đã phản ánh và góp phần nâng cao nhận thức về tình trạng này trong giai đoạn 2012-2014. Qua đó, tài liệu không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về nguyên nhân và hệ quả của mất cân bằng giới tính mà còn chỉ ra vai trò quan trọng của truyền thông trong việc giải quyết vấn đề xã hội này.

Để mở rộng thêm kiến thức về mối quan hệ giữa báo chí và các vấn đề xã hội, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ với báo chí trong việc xây dựng hình ảnh đại học quốc gia hà nội, nơi khám phá cách báo chí góp phần xây dựng hình ảnh của các tổ chức giáo dục. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh khai thác thông tin báo chí phục vụ cho công tác truyền thông nội bộ các doanh nghiệp fdi tại việt nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về việc sử dụng thông tin báo chí trong truyền thông doanh nghiệp. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ ussh vai trò của thông tấn xã việt nam trong việc chỉnh hướng phản bác thông tin sai lệch sẽ cung cấp cái nhìn về vai trò của thông tấn xã trong việc xử lý thông tin sai lệch, một vấn đề cũng rất quan trọng trong bối cảnh truyền thông hiện nay.

Những tài liệu này không chỉ mở rộng kiến thức mà còn giúp bạn hiểu rõ hơn về vai trò của báo chí trong các vấn đề xã hội khác nhau.