Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học, Tập làm văn là phân môn mang tính tổng hợp cao và đặt ra nhiều khó khăn đối với quá trình dạy và học. Để nâng cao chất lượng giảng dạy, giáo viên cần xác định rõ nguyên nhân khiến học sinh chưa đạt yêu cầu trong bài viết. Thể loại văn miêu tả chiếm vị trí then chốt, chiếm thời lượng lớn trong chương trình (lớp 4 chiếm 56%, lớp 5 chiếm 48% đến 59% thời lượng phân môn Tập làm văn). Đây là thể loại giàu hình ảnh, phản ánh trực tiếp khả năng quan sát, tư duy cảm xúc và kĩ năng sử dụng ngôn ngữ của học sinh, qua đó giúp giáo viên phát hiện các lỗ hổng diễn đạt của người học.

Về bối cảnh thực tiễn, từ năm 2002, bộ Sách giáo khoa lớp 4 và lớp 5 thuộc chương trình Thử nghiệm Tiểu học 2000 (TNTH 2000) được đưa vào triển khai song song với chương trình Cải cách giáo dục (CCGD). Sự thay đổi về cấu trúc bài học, định hướng ngữ liệu và phương pháp kiểm tra giữa hai chương trình đòi hỏi việc kiểm định thực tế bài làm của học sinh nhằm đánh giá kết quả đạt được, chỉ ra các tồn tại và rút ra kinh nghiệm sư phạm cụ thể.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài gồm hai nhiệm vụ chính:

  1. Nghiên cứu, đối chiếu nội dung bài dạy và bài học phân môn Tập làm văn thể loại văn miêu tả lớp 5 giữa chương trình CCGD và chương trình TNTH 2000.
  2. Khảo sát, chấm lỗi trên bài làm thực tế của học sinh lớp 5 ở thể loại văn miêu tả nhằm thống kê các dạng lỗi diễn đạt, làm rõ nguyên nhân mắc lỗi và đề xuất các biện pháp khắc phục sư phạm.

Đối tượng nghiên cứu là các dạng lỗi diễn đạt (chính tả, từ vựng, ngữ pháp, diễn đạt ý) trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 5. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện thông qua khảo sát 500 bài văn của học sinh lớp 5 tại 4 trường tiểu học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh vào năm học 2004 - 2005: Trường Tiểu học Minh Đạo (Quận 5) và Trường Tiểu học Nguyễn Việt Hồng (Quận 3) theo chương trình CCGD; Trường Tiểu học Dương Minh Châu (Quận 10) và Trường Tiểu học Nguyễn Chi Thanh (Quận 10) theo chương trình TNTH 2000. Tác giả cũng tiến hành phỏng vấn bổ sung học sinh tại Trường Tiểu học Bàu Sen (Quận 5) và Trường Tiểu học Đinh Tiên Hoàng (Quận Bình Thạnh).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận thể loại văn miêu tả dựa trên định nghĩa từ Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh: miêu tả là "lấy nét vẽ và câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự vật ra". Văn miêu tả trong nhà trường tiểu học mang tính thực hành toàn diện, đòi hỏi học sinh huy động tri thức đời sống, kĩ năng dùng từ, đặt câu, dựng đoạn, liên kết văn bản và tư duy thẩm mỹ cá nhân.

Về mặt lý luận dạy học và phân loại lỗi ngôn ngữ, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu phương pháp dạy học Tiếng Việt của Lê Phương Nga, Nguyễn Trí (1995), Vũ Khắc Tuân (1996), Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (2001); các tài liệu rèn luyện kĩ năng viết văn miêu tả của Tô Hoài (1997), Hoàng Hòa Bình (1999), Vũ Tú Nam (1999), Đỗ Ngọc Thống, Phạm Minh Diệu (2003). Về lý thuyết phân tích lỗi, tác giả dựa trên hệ thống phân loại trong các nghiên cứu của Hồ Lê, Lê Trung Hoa (1990), Lê Phương Nga (1999) và bộ tài liệu nghiên cứu lỗi tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (2002) gồm các tác giả Lê Trung Hoa (lỗi chính tả), Hồ Lê (lỗi từ vựng) và Cao Xuân Hạo (lỗi ngữ pháp).

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thống kê, phân loại: Thu thập dữ liệu lỗi từ 500 bài văn, phân loại thành 4 nhóm lỗi chính và tính toán tỉ lệ phần trăm trên từng chương trình.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Phân tích sự khác biệt về cấu trúc chương trình, ngữ liệu, quy trình bài giảng và thời lượng dạy học giữa CCGD và TNTH 2000; đối chiếu tỉ lệ lỗi giữa hai nhóm học sinh.
  • Phương pháp điều tra, phỏng vấn: Trò chuyện trực tiếp với học sinh tiểu học để ghi nhận nhận thức của các em về việc phạm lỗi khi làm bài văn miêu tả.

Nguồn dữ liệu nghiên cứu bao gồm 500 bài văn khảo sát viết về 2 đề bài cụ thể: "Tả quang cảnh đường phố vào buổi sáng khi em đến trường" và "Tả hình dáng, tính tình người bạn thân nhất của em"; các biên bản phỏng vấn học sinh và ngữ liệu sách giáo khoa Tiếng Việt các lớp 2, 3, 4, 5 của hai chương trình.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về Văn miêu tả trong chương trình tiểu học

Chương 1 xác định vị trí, tính chất và nhiệm vụ của thể loại văn miêu tả. Về tính chất, bài văn miêu tả vừa mang tính thực hành toàn diện, vừa mang đậm màu sắc cá nhân và tính sáng tạo. Về nhiệm vụ, phân môn này rèn luyện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, phát triển thao tác tư duy quan sát, lựa chọn chi tiết, lập dàn ý và bồi dưỡng nhân cách, cảm xúc thẩm mỹ cho học sinh.

Tác giả phân tích nội dung dạy học qua hai giai đoạn:

  • Giai đoạn chuẩn bị (lớp 2, 3): Chương trình CCGD sử dụng 5 dạng bài tập (điền từ vào chỗ trống, dùng từ đặt câu, quan sát đồ vật, quan sát tranh trả lời câu hỏi, trả lời câu hỏi). Các bài tập này rèn luyện phản xạ ngôn ngữ nhưng ngữ liệu còn trùng lặp với phân môn Tập đọc và Từ ngữ - Ngữ pháp. Chương trình TNTH 2000 tinh giản thành 3 dạng bài (quan sát tranh trả lời câu hỏi, luyện nói, tả ngắn 3-5 câu) với ngữ liệu sinh động, tranh ảnh trực quan; tuy nhiên việc loại bỏ hoàn toàn dạng bài quan sát vật thật trực tiếp và yêu cầu viết đoạn văn ngắn được đánh giá là hơi quá sức với học sinh lớp 2, 3.
  • Giai đoạn chính thức (lớp 4, 5): Cả hai chương trình đều dạy văn miêu tả đồ vật, cây cối, con vật, cảnh vật và con người.

Điểm khác biệt cốt lõi ở khối lớp 5 được tác giả tổng hợp qua các tiêu chí sau:

Đặc điểm so sánh Chương trình CCGD Chương trình TNTH 2000
Nội dung giảng dạy Tả người (16 tiết); Tả cảnh sinh hoạt (16 tiết). Tả người (12 tiết); Tả cảnh (19 tiết); Ôn tập đồ vật, con vật, cây cối (10 tiết).
Thời lượng miêu tả 32 tiết / 66 tiết Tập làm văn (chiếm 48%). 41 tiết / 70 tiết Tập làm văn (chiếm 59%).
Quy trình bài dạy Quy trình 5 bước trên 1 đề bài bắt buộc duy nhất (Tìm hiểu đề, Lập dàn bài chi tiết, Làm văn miệng, Làm văn viết, Trả bài). Quy trình 7 - 8 bước mở rộng (Giới thiệu cấu tạo, Luyện tập quan sát/chọn ý, Luyện tập dựng đoạn, Kiểm tra viết, Trả bài).
Cách thức làm bài Học sinh làm theo dàn ý chung do giáo viên hướng dẫn, ngữ liệu cố định. Học sinh tự lập dàn ý thông qua ngữ liệu tham khảo đa dạng, tự do chọn đề tài.
Phương thức kiểm tra 4 - 5 bài kiểm tra với đề bài bắt buộc. 3 bài kiểm tra với hệ thống đề tự chọn theo sở thích.

Chương 2: Lỗi trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 5

Chương này tập trung khảo sát, phân loại chi tiết 4 nhóm lỗi diễn đạt xuất hiện trong 500 bài làm văn của học sinh:

  1. Lỗi chính tả:
  • Lỗi viết hoa: Không viết hoa tên người, tên địa danh hoặc viết hoa tùy tiện danh từ chung.
  • Lỗi thanh điệu: Nhầm lẫn thanh hỏi và thanh ngã (vắng vẽ, mỗi mệt, rãnh đất), lỗi viết sai dấu do tư duy bị ảnh hưởng bởi từ đi trước hoặc đi sau (cây bit, gâu gất).
  • Lỗi âm đầu: Lẫn lộn c/ch, ng/ngh do quên quy tắc chính tả; lẫn lộn ch/tr, s/x, d/r/gi, l/n do ảnh hưởng phát âm địa phương.
  • Lỗi âm chính: Chiếm tỉ lệ lớn nhất, bao gồm nhược hóa nguyên âm đôi (chiu sáng, iém lặng, ngủ thíp, nườm nượp) và lỗi do phát âm gần giống (giơ tai, cây cao, tấm vóc, tấn nặp).
  • Lỗi âm cuối: Học sinh khu vực phía Nam sai phổ biến các cặp đối lập -n/-ng, -t/-c, -un/-ung, -ut/-uc do đặc điểm phương ngữ (bang mai, lắt dắt, tung tăn, ướt như chuộc).
  1. Lỗi từ vựng: Gồm 6 nhóm lỗi cụ thể:
  • Viết sai âm gây lẫn lộn nghĩa (thon thả thay vì thong thả, tàn thay vì toàn, tỉa lông thay vì rỉa lông).
  • Hiểu sai nghĩa từ vựng (chạy vun vút dùng cho phụ huynh đưa đón con, nhầm cảm tưởng với ấn tượng, nhà thấp chễm chệ, áo dài lướt thướt).
  • Phối hợp nghĩa không ăn khớp (tiếng lách cách trông thật vui tai, lớp đám mây, người già vận động uyển chuyển, xưng hô bất nhất ba - bố, em - tôi).
  • Lỗi về tình thái: Thêm từ cảm thán hoặc tình thái sai vị trí làm câu tối nghĩa (lúc nào!, làm sao ấy!).
  • Dùng sai ngữ cảnh: Tả bạn cùng lớp có nét mặt phúc hậu, tiếng người bán xôi reo hò, mây trời lăn tăn, xanh mơn mởn.
  • Lỗi phong cách: Đưa ngôn ngữ sinh hoạt tự do vào văn bản viết (lố nhố, nhào vô xực một tô cho đã, chịu không nổi).
  1. Lỗi ngữ pháp:
  • Từ loại: Kết hợp danh từ trừu tượng với phụ từ không phù hợp (các ấn tượng), câu thiếu thể bị động (Kiệt bắt làm...), kết hợp tính từ tuyệt đối với từ chỉ mức độ (rất san sát, rất xanh thắm), dùng sai phụ từ thời gian (đã, chỉ có).
  • Thành phần câu: Câu thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ (Chỉ còn vài bước đã đến trường. Nhưng em thấy...), nhầm lẫn chủ ngữ với trạng ngữ, câu thiếu định ngữ làm mất thông tin, dùng bổ ngữ không thích hợp (mưa tát vào mặt rất to và lạnh).
  • Cấu tạo câu: Câu què, câu rút gọn sai hoàn cảnh, câu ghép đẳng lập thiếu tính cân đối, dùng sai cặp từ chỉ quan hệ (Vì... và...).
  • Dấu câu: Không sử dụng dấu chấm ngắt câu, đặt sai vị trí dấu phẩy.
  1. Lỗi diễn đạt ý: Học sinh mắc lỗi diễn đạt dạng liệt kê cơ học; lặp ý; ý không logic (mắt ba nhìn nghiêm nghị nhưng tròn xoe như hai hòn bi); ý rời rạc chắp vá (đang tả đường phố đột ngột chuyển sang hứa học giỏi và chấp hành luật giao thông); ý diễn đạt do tư duy non nớt (thoạt nhìn chín mười tuổi chứ thật ra bạn mười một tuổi, tóc như những cây đinh cắm lên đầu).

Chương 2 khép lại với hệ thống biện pháp sư phạm: phối hợp dạy chính tả có ý thức và không ý thức, chú trọng chữa lỗi phương ngữ; làm giàu vốn từ qua phân môn Tập đọc và Luyện từ và câu gắn với chọn lọc ngữ liệu; dạy ngữ pháp lấy câu làm trục trung tâm và tổ chức cho học sinh rèn luyện tư duy quan sát, đặt câu hỏi (cái gì, ở đâu, vì sao, như thế nào) kết hợp vẽ biểu đồ sự kiện để khắc phục lỗi diễn đạt ý.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm so sánh tỉ lệ mắc lỗi giữa học sinh học chương trình CCGD và chương trình TNTH 2000 qua 3 bảng thống kê:

Nhóm lỗi chính tả Chương trình CCGD (%) Chương trình TNTH 2000 (%)
Viết hoa 14% 11%
Thanh điệu 23% 20%
Âm đầu 19% 16%
Âm chính 39% 35%
Âm cuối 28% 25%
Nhóm lỗi từ vựng Chương trình CCGD (%) Chương trình TNTH 2000 (%)
Viết sai âm gây lẫn lộn về nghĩa 14% 10%
Hiểu sai nghĩa của đơn vị từ vựng 28% 20%
Phối hợp nghĩa không ăn khớp 21% 16%
Lỗi tình thái 12% 9%
Dùng từ sai ngữ cảnh 16% 12%
Lỗi về phong cách 9% 6%
Nhóm lỗi ngữ pháp Chương trình CCGD (%) Chương trình TNTH 2000 (%)
Từ loại 16% 23%
Thành phần câu 25% 22%
Cấu tạo câu 27% 28%
Dấu câu 29% 18%

Các số liệu cho thấy học sinh học chương trình TNTH 2000 ít mắc lỗi chính tả, lỗi từ vựng và lỗi dấu câu hơn học sinh học chương trình CCGD. Lý do là chương trình TNTH 2000 gia tăng thời lượng luyện tập, phương pháp dạy học mở cho phép học sinh tự tìm từ, tự chọn đề tài và hệ thống dấu câu được ôn luyện xuyên suốt (dấu chấm 13 tiết, dấu phẩy 19 tiết, dấu hỏi 6 tiết). Ngược lại, ở nhóm lỗi từ loại và cấu tạo câu, học sinh chương trình TNTH 2000 có tỉ lệ sai sót cao hơn (lỗi từ loại chiếm 23% so với 16% ở CCGD). Nguyên nhân là phân môn Luyện từ và câu ở giai đoạn lớp 2, 3 của chương trình mới đã giảm tải lý thuyết ngữ pháp hình thức, khiến học sinh thiếu điểm tựa khái niệm để định danh và tự sửa chữa lỗi câu.

Về mặt giải pháp, tác giả đề xuất giáo viên cần tận dụng tiết trả bài để học sinh tự phân tích lỗi và sửa lỗi; phân loại phương ngữ để rèn chính tả; tích hợp làm giàu vốn từ qua phân môn Tập đọc. Đặc biệt, tác giả đề xuất một kiến nghị chương trình: việc bố trí dạy xen kẽ các thể loại văn trong chương trình TNTH 2000 có thể làm gián đoạn kĩ năng của học sinh; do đó nên xem xét sắp xếp giảng dạy phân môn Tập làm văn theo trình tự "cuốn chiếu" từng thể loại nhằm giúp học sinh thực hành liền mạch và thành thạo trước khi chuyển sang thể loại mới.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc khảo sát thực chứng toàn diện trên cỡ mẫu 500 bài làm, kết hợp phân tích đối chiếu định lượng giữa hai giai đoạn chương trình giáo dục tiểu học tại một thời điểm chuyển giao quan trọng, thay vì chỉ tiếp cận lý thuyết phương pháp thuần túy như phần lớn các tài liệu trước đó.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ giới hạn khảo sát trên một thể loại duy nhất là văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn và dừng lại ở đối tượng học sinh khối lớp 5 tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh. Việc khảo sát chưa bao quát được các thể loại khác của phân môn Tập làm văn cũng như các khối lớp khác trong bậc tiểu học. Tác giả tự nhận định do giới hạn thời gian nên chưa thể mở rộng diện nghiên cứu và đặt hướng nghiên cứu tiếp theo vào việc khảo sát mở rộng sang các thể loại Tập làm văn khác (như văn kể chuyện, viết thư) và khảo sát trên toàn bộ các khối lớp còn lại của cấp tiểu học.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên ngành Giáo dục Tiểu học và Sư phạm Ngữ văn trong việc nghiên cứu phương pháp dạy học phân môn Tập làm văn và phương pháp điều tra lỗi ngôn ngữ học sinh. Đối với giáo viên tiểu học đang trực tiếp giảng dạy, phần phân tích chi tiết các lỗi sai cụ thể kèm ví dụ thực tế (đặc biệt là lỗi chính tả phương ngữ Nam Bộ, lỗi dùng từ sai ngữ cảnh và lỗi câu què) cung cấp cứ liệu trực quan phục vụ công tác chữa bài trong tiết trả bài viết. Ngoài ra, các nhà nghiên cứu chương trình giáo dục tiểu học có thể tham khảo bảng dữ liệu thực nghiệm so sánh giữa chương trình CCGD và TNTH 2000 để đánh giá tác động của cấu trúc chương trình đối với năng lực diễn đạt của học sinh.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận tiến hành khảo sát thực nghiệm trên cỡ mẫu và tại những trường học nào?
Nghiên cứu khảo sát trực tiếp 500 bài văn của học sinh lớp 5 tại 4 trường tiểu học ở Thành phố Hồ Chí Minh: Trường Minh Đạo (Quận 5), Trường Nguyễn Việt Hồng (Quận 3) thuộc chương trình CCGD; Trường Dương Minh Châu (Quận 10), Trường Nguyễn Chi Thanh (Quận 10) thuộc chương trình TNTH 2000. Ngoài ra, tác giả phỏng vấn học sinh tại Trường Bàu Sen (Quận 5) và Trường Đinh Tiên Hoàng (Quận Bình Thạnh).

Tại sao học sinh chương trình TNTH 2000 có tỉ lệ sai lỗi dấu câu thấp hơn đáng kể so với chương trình CCGD?
Theo số liệu Bảng 2.3, học sinh chương trình TNTH 2000 chỉ mắc 18% lỗi dấu câu so với 29% của chương trình CCGD. Nguyên nhân là chương trình CCGD chỉ dạy dấu câu tập trung ở lớp 3 (mỗi dấu 2 tiết), trong khi chương trình TNTH 2000 bố trí số tiết dạy dấu câu xuyên suốt và ôn tập lặp lại qua các khối lớp với thời lượng lớn (dấu chấm có 13 tiết, dấu phẩy có 19 tiết, dấu chấm hỏi có 6 tiết, dấu chấm than có 3 tiết).

Vì sao học sinh chương trình TNTH 2000 lại mắc lỗi từ loại cao hơn học sinh chương trình CCGD?
Học sinh chương trình TNTH 2000 mắc 23% lỗi từ loại, cao hơn mức 16% của chương trình CCGD. Tác giả chỉ ra nguyên nhân là chương trình mới đổi tên phân môn thành Luyện từ và câu, ở các lớp 2 và 3 chỉ tập trung mở rộng vốn từ và giới thiệu câu thông qua câu hỏi giao tiếp cơ bản, giảm nhẹ việc cung cấp các khái niệm ngữ pháp lý thuyết hình thức. Do đó, học sinh khó định danh được loại lỗi của mình để tự chỉnh sửa bài làm.

Yếu tố ngữ âm địa phương nào dẫn đến việc học sinh trong khảo sát mắc nhiều lỗi âm cuối?
Địa bàn khảo sát thuộc khu vực Thành phố Hồ Chí Minh, học sinh mang đặc điểm phương ngữ Nam Bộ không phân biệt được các âm cuối đối lập như -n với -ng, -t với -c, dẫn đến việc các em viết bài theo thói quen phát âm thường ngày và sai các cặp vần như an/ang, at/ac, in/inh, it/ich, un/ung, ut/uc.

Tác giả đề xuất giải pháp gì đối với tiến trình giảng dạy phân môn Tập làm văn trong chương trình mới?
Tác giả đề xuất ý kiến sắp xếp lại chương trình phân môn Tập làm văn theo trình tự "cuốn chiếu" từng thể loại, thay vì dạy xen kẽ các thể loại như thiết kế của chương trình TNTH 2000. Việc dạy cuốn chiếu giúp học sinh rèn luyện liên tục kĩ năng cho đến khi thuần thục một thể loại văn bản trước khi chuyển sang thể loại khác.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Thu Hiền đã phản ánh thực trạng các dạng lỗi diễn đạt phổ biến trong bài văn miêu tả của học sinh lớp 5 thông qua dữ liệu khảo sát 500 bài văn thực tế tại Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả nghiên cứu chứng minh chương trình TNTH 2000 giúp học sinh giảm thiểu đáng kể lỗi chính tả, từ vựng và dấu câu nhờ tăng thời lượng rèn luyện và mở rộng tính chủ động, nhưng lại bộc lộ hạn chế về lỗi từ loại và cấu tạo câu do giảm tải lý thuyết ngữ pháp. Toàn bộ phát hiện thực nghiệm và các giải pháp sư phạm trong đề tài mang lại giá trị thực tiễn đối với công tác giảng dạy phân môn Tập làm văn cũng như việc hoàn thiện cấu trúc chương trình Tiếng Việt bậc tiểu học.