Tổng quan nghiên cứu

Nghiên cứu về cơ cấu kinh tế - xã hội tại vùng trung du miền núi phía Bắc trong lịch sử đóng vai trò then chốt nhằm làm sáng tỏ tiến trình hội nhập lãnh thổ của vương triều Nguyễn. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam tập trung khảo cứu diện mạo toàn diện của tổng Nông Thượng thuộc châu Bạch Thông, tỉnh Thái Nguyên (nay tương ứng với phần lớn địa bàn thành phố Bắc Kạn và một phần huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn) trong nửa đầu thế kỉ XIX. Vùng đất này sở hữu hơn 90% diện tích tự nhiên là địa hình đồi núi hiểm trở, nằm dọc theo lưu vực sông Cầu với chiều dài 103 km chảy qua địa phận địa phương cùng lưu lượng dòng chảy trung bình đạt 25,3 m3/giây.

Mục tiêu cụ thể của công trình khoa học này là phục dựng chân thực bức tranh lịch sử kinh tế - xã hội, trong đó trọng tâm then chốt là chế độ sở hữu ruộng đất và các mối quan hệ tộc người tại 6 đơn vị xã thôn vào mốc lịch sử năm 1840 (năm Minh Mệnh thứ 21). Thông qua việc giải mã toàn diện 6 tập tư liệu địa bạ gốc kết hợp với 2 đợt khảo sát thực địa chuyên sâu trong các năm 2018 và 2019, luận văn đã làm sáng tỏ quy mô phân bổ của 1326 mẫu 6 sào 11 thước 6 tấc đất đai canh tác và cư trú của 5 cộng đồng tộc người: Tày, Dao, Kinh, Nùng và Hoa. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu định lượng xác thực, làm phong phú nguồn sử liệu địa phương và tạo cơ sở khoa học tin cậy phục vụ việc củng cố chính sách đại đoàn kết dân tộc vùng cao trong giai đoạn hiện nay.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng nền tảng lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong nền nông nghiệp truyền thống. Đồng thời, nghiên cứu kết hợp chặt chẽ lý thuyết sinh thái nhân văn và phương pháp tiếp cận khu vực học lịch sử nhằm lý giải phương thức thích ứng, chinh phục tự nhiên của các cộng đồng tộc người thiểu số tại vùng thung lũng đồi núi. Mô hình nghiên cứu đặt chế độ sở hữu ruộng đất làm biến số trung tâm nhằm làm sáng tỏ cấu trúc giai tầng và mô hình quản lý hành chính làng xã thời Nguyễn.

Hệ thống lý thuyết được xây dựng dựa trên 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Địa bạ: Văn bản quản lý hành chính chính thức của nhà nước phong kiến ghi nhận địa giới, diện tích và quyền sở hữu ruộng đất của làng xã.
  • Tư điền: Ruộng đất thuộc quyền sở hữu, định đoạt của các cá nhân, hộ gia đình hoặc dòng họ.
  • Lưu hoang: Ruộng đất canh tác bị bỏ hoang hóa do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, thiếu nhân lực hoặc biến cố xã hội.
  • Phụ canh: Hiện tượng người dân sở hữu hoặc cày cấy ruộng đất nằm ngoài phạm vi ranh giới hành chính của thôn xã nơi mình cư trú.
  • Thổ trạch viên trì: Quỹ đất dành cho thổ cư, vườn tược và ao hồ thuộc sở hữu của cư dân bản địa.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp nòng cốt của công trình nghiên cứu là 6 tập địa bạ chữ Hán - Nôm được thiết lập vào năm Minh Mệnh thứ 21 (1840), hiện đang lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I Hà Nội với các ký hiệu văn bản: A3/8203, A12/8227, A13/8219, A14/8231, A20/8247 và A25/8260. Nguồn tư liệu này được đối chiếu với các bộ cổ sử kinh điển như Đại Nam nhất thống chí, Đồng Khánh địa dư chí, Đại Việt sử ký toàn thư và Lịch triều hiến chương loại chí.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát toàn bộ 100% diện tích đo đạc trong 6 tập địa bạ khả dụng với tổng số 195 chủ sở hữu đứng tên trên 235 thửa ruộng. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ nhằm loại bỏ hoàn toàn sai số thống kê, đảm bảo tính bao quát và chân thực tuyệt đối của dữ liệu lịch sử. Tác giả kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic làm xương sống, phối hợp kỹ thuật phân tích định lượng thống kê biểu bảng với phương pháp điền dã dân tộc học thực hiện qua 2 đợt (cuối năm 2018 và đầu năm 2019) tại 6 xã thuộc tổng Nông Thượng nhằm thu thập gia phả, tư liệu truyền khẩu mo then, sli, lượn và khảo sát thực địa các di tích lịch sử.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích định lượng từ 6 văn bản địa bạ năm 1840 đã làm nổi bật 4 phát hiện căn bản về bức tranh kinh tế - xã hội tổng Nông Thượng:

Thứ nhất, tính chất tư hữu hóa ruộng đất đạt mức độ gần như tuyệt đối. Trong tổng quy mô 1326 mẫu 6 sào 11 thước 6 tấc đất đai của toàn tổng, diện tích ruộng đất tư điền chiếm tới 1275 mẫu 4 sào 11 thước 6 tấc, đạt tỷ lệ áp đảo 96,14%. Toàn bộ 6 xã thôn hoàn toàn không có sự hiện diện của ruộng đất công điền hay công thổ (tỷ lệ 0%), trong khi đất thổ trạch viên trì chiếm 3,82% (50 mẫu 7 sào) và đất thần từ phật tự chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ 0,04% (7 sào).

Thứ hai, quy mô sở hữu mang tính chất trung bình và tương đối manh mún. Toàn bộ 100% diện tích ruộng đất đều được phân hạng là ruộng loại ba (thu điền). Nhóm chủ ruộng sở hữu quy mô trung bình từ 3 đến 10 mẫu chiếm ưu thế tuyệt đối với 135 người (đạt tỷ lệ 69,23% tổng số chủ), nắm giữ 716,4 mẫu ruộng (chiếm 68,37% tổng diện tích tư điền). Diện tích sở hữu bình quân đạt 5,37 mẫu trên mỗi chủ ruộng, phân bố rải rác trên 235 thửa đất.

Thứ ba, sự phân hóa rõ nét về mặt giới tính và cấu trúc dòng họ. Trong số 195 chủ sở hữu được ghi nhận, nam giới chiếm tới 185 người (94,87% số chủ) và kiểm soát 95,68% diện tích ruộng đất; phụ nữ chỉ có 10 người đứng tên (chiếm 5,13% số chủ) với tổng diện tích khiêm tốn 45 mẫu (4,34% diện tích). Toàn tổng có 28 nhóm họ cùng sở hữu đất đai, trong đó họ Nguyễn đứng đầu với 224 mẫu (21,41% diện tích), họ Hoàng chiếm 209 mẫu (20,02%) và họ Hà có số lượng chủ đông nhất với 41 người nắm giữ 202,8 mẫu (19,29%).

Thứ tư, tỷ lệ ruộng lưu hoang đáng kể và sự xuất hiện của quan hệ phụ canh. Diện tích tư điền lưu hoang lên tới 227 mẫu 6 sào (chiếm 17,85% diện tích tư điền), phản ánh những khó khăn trong việc duy trì sản xuất liên tục trước thiên tai và dịch bệnh. Đất phụ canh xuất hiện tại hai xã Huyền Tụng và Nông Thượng với quy mô 144 mẫu 9 sào, minh chứng cho sự lưu chuyển quyền sử dụng ruộng đất vượt ra khỏi phạm vi ranh giới làng xã truyền thống.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân căn bản dẫn đến tỷ lệ tư hữu hóa ruộng đất 96,14% tại Nông Thượng xuất phát từ đặc thù canh tác nông nghiệp miền núi. Khác với vùng châu thổ Bắc Bộ nơi nhà nước phong kiến can thiệp sâu để duy trì công điền làng xã, ruộng đất nơi đây do các gia đình, dòng họ người Tày bản địa (Cần Tày cốc đin mác nhả) tự tay khai phá từ các thung lũng khe suối qua hàng trăm năm, lâu dần được nhà nước thừa nhận là sở hữu tư nhân. Mức độ tập trung ruộng đất chưa dẫn đến sự phân hóa giai cấp sâu sắc do không có cá nhân nào sở hữu vượt quá 20 mẫu; người có diện tích lớn nhất là ông Nông Đình Dương (xã Huyền Tụng) sở hữu 18 mẫu và ông Hoàng Hữu Hợp (xã Dương Quang) sở hữu 13,4 mẫu.

Khi đối chiếu với các địa bàn lân cận cùng thời điểm năm 1840, tổng Nông Thượng có 28 nhóm họ, phản ánh sự dung hợp tộc người ở mức độ hài hòa so với 37 nhóm họ tại Ngân Sơn, 27 nhóm họ tại Chợ Đồn và 51 nhóm họ tại Ba Bể. Bộ phận 13 chức sắc địa phương (gồm 6 lý trưởng, 6 dịch mục, 1 hương mục) sở hữu tổng cộng 84,6 mẫu đất với mức bình quân 6,5 mẫu/người, cho thấy tầng lớp quản lý cơ sở chủ yếu xuất thân từ trung nông chứ chưa phát triển thành tầng lớp địa chủ phong kiến bóc lột quy mô lớn.

Toàn bộ hệ thống dữ liệu định lượng này có thể được mô hình hóa trực quan và tối ưu nhất thông qua biểu đồ tròn biểu diễn cơ cấu phân bổ 4 loại đất (tư điền thực canh, tư điền lưu hoang, thổ trạch viên trì, thần từ) kết hợp cùng biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ lệ số chủ sở hữu và tỷ lệ diện tích nắm giữ theo 5 phân khúc quy mô canh tác.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện khoa học của luận văn, 4 nhóm giải pháp cụ thể được đề xuất nhằm phát huy giá trị lịch sử và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương:

Thứ nhất, số hóa 100% hệ thống tư liệu địa bạ và di sản Hán - Nôm. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Kạn chủ trì phối hợp cùng Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I xây dựng cơ sở dữ liệu số cho 6 bộ địa bạ thời Minh Mệnh và các văn bản thư tịch cổ tại thành phố Bắc Kạn trong giai đoạn 2026-2028.

Thứ hai, phục tráng và bảo tồn nguồn gen 15 giống lúa thuần bản địa. Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn phối hợp với Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam triển khai vùng bảo tồn các giống lúa cổ truyền như khẩu lài, khẩu nua lương, khẩu pét trên quy mô 200 hecta tại lưu vực sông Cầu trong giai đoạn 2026-2030.

Thứ ba, quy hoạch 3 tuyến du lịch sinh thái gắn liền với di sản văn hóa lịch sử. Ủy ban nhân dân thành phố Bắc Kạn và Ủy ban nhân dân huyện Bạch Thông liên kết đầu tư hạ tầng kết nối các thắng cảnh dãy núi Phja Booc (độ cao 1502 m), Phja Dạ và lưu vực sông Nặm Cắt, đặt mục tiêu thu hút 150.000 lượt du khách trải nghiệm văn hóa Tày - Dao mỗi năm vào năm 2030.

Thứ tư, tích hợp tri thức lịch sử địa phương vào hệ thống giáo dục phổ thông. Phòng Giáo dục và Đào tạo địa phương tổ chức biên soạn tài liệu giảng dạy về lịch sử hành chính, nghề nông truyền thống và văn hóa dân gian (sli, lượn, mo then) cho 100% trường trung học cơ sở trên địa bàn từ năm học 2026-2027.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là công trình chuyên khảo mang lại giá trị thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế và dân tộc học: Cung cấp nguồn số liệu định lượng chuẩn xác về địa bạ học thời Nguyễn, làm hệ quy chiếu so sánh cấu trúc ruộng đất giữa vùng núi phía Bắc và đồng bằng châu thổ sông Hồng.

Thứ hai, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Sư phạm Lịch sử, Việt Nam học: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp giữa khai thác văn bản Hán - Nôm và điều tra điền dã thực tế trong nghiên cứu lịch sử địa phương.

Thứ ba, cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan quy hoạch nông thôn: Khai thác dữ liệu lịch sử về không gian cư trú và phân bố đất đai để xây dựng chính sách bảo tồn bản làng truyền thống gắn với chương trình xây dựng nông thôn mới.

Thứ tư, các cơ quan hoạch định chính sách dân tộc miền núi: Rút ra bài học lịch sử về quá trình cộng cư đoàn kết giữa 5 dân tộc Tày, Nùng, Dao, Hoa, Kinh, từ đó xây dựng các chương trình an sinh xã hội phù hợp với tập quán địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tổng Nông Thượng không có diện tích công điền, công thổ vào năm 1840? Theo địa bạ Minh Mệnh 21, vùng đất này có 96,14% là tư điền do đồng bào Tày tự khai phá các thung lũng ven sông suối qua nhiều thế hệ. Nhà Nguyễn tôn trọng và thừa nhận quyền sở hữu tư nhân này để khuyến khích định canh, không áp đặt chia cấp công điền như ở vùng đồng bằng.

Tỷ lệ sở hữu ruộng đất của phụ nữ phản ánh điều gì về cấu trúc xã hội thời bấy giờ? Địa bạ chỉ ghi nhận 10 chủ nữ (5,13%) nắm giữ 45 mẫu ruộng (4,34% diện tích). Điều này phản ánh sự chi phối mạnh mẽ của hệ tư tưởng phụ hệ phong kiến thời Nguyễn kết hợp với chế độ Thổ ty - Quằng bản địa, khiến quyền thừa kế và định đoạt tư liệu sản xuất chính tập trung vào nam giới.

Vì sao 100% diện tích ruộng đất tại Nông Thượng đều bị xếp vào loại ba (thu điền)? Do địa hình hơn 90% là đồi núi, đất đai chủ yếu là đất feralit cằn cỗi và ruộng bậc thang nà lẹng phụ thuộc hoàn toàn vào nước mưa tự nhiên. Triều đình xếp hạng 3 nhằm áp dụng mức thuế nhẹ, phù hợp với năng suất bấp bênh chỉ gieo trồng được một vụ lúa thu mỗi năm.

Hiện tượng "Kinh già hóa Thổ" diễn ra tại địa phương theo cơ chế lịch sử nào? Từ thế kỷ XVIII, các quan lại, binh lính và phu mỏ người Kinh lên châu Bạch Thông nhậm chức (tiêu biểu như Tuần châu Hà Thiêm Ích giai đoạn 1708-1807) đã định cư lâu dài, kết hôn với phụ nữ bản địa, qua nhiều thế hệ đã tiếp thu ngôn ngữ, trang phục và hòa nhập thành người Tày.

Nguyên nhân nào khiến hệ thống địa bạ thời Gia Long năm 1804 không xuất hiện tại vùng đất này? Đầu triều Gia Long, vùng rừng núi Thái Nguyên và Tuyên Quang vẫn còn nhiều biến động phức tạp do sự chống đối của tàn dư phong trào Tây Sơn liên kết với các lực lượng địa phương. Tình hình an ninh bất ổn đã khiến việc đo đạc lập sổ bạ của triều đình trung ương bị gián đoạn.

Kết luận

Tổng kết toàn bộ công trình nghiên cứu, luận văn đã đạt được những đóng góp học thuật nổi bật qua 5 điểm chính:

  • Tái hiện hệ thống dữ liệu định lượng chuẩn xác từ 6 tập địa bạ Minh Mệnh năm 1840 với tổng quy mô 1326 mẫu 6 sào 11 thước 6 tấc.
  • Khẳng định tính chất tư hữu hóa ruộng đất chiếm ưu thế tuyệt đối (96,14%) tại vùng cao Bạch Thông trong nửa đầu thế kỷ XIX.
  • Xác định quy mô canh tác phổ biến thuộc tầng lớp trung nông từ 3 đến 10 mẫu (chiếm 69,23% số chủ) và tỷ lệ lưu hoang 17,85% do thiên tai.
  • Phân tích sâu sắc quá trình giao lưu văn hóa và cố kết cộng đồng giữa 5 tộc người Tày, Dao, Kinh, Nùng và Hoa.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn di sản số và phát triển du lịch sinh thái nông nghiệp cho địa phương giai đoạn 2026-2030.

Các cơ quan chuyên môn và viện nghiên cứu cần tiếp tục mở rộng khai thác tư liệu địa bạ toàn tỉnh Bắc Kạn nhằm hoàn thiện bức tranh lịch sử kinh tế - xã hội miền núi phía Bắc thời phong kiến.