Đặt vấn đề Nuôi cá rô phi ở nước ta những năm gần đây rất phát triển. Cá rô phi được Bộ NN và PTNT xác định là 1 trong 4 đối tượng thủy sản nuôi chủ lực trên cả nước do có thể nuôi được ở cả nước ngọt và diện tích nước lợ ven biển. Với ưu thế ít dịch bệnh, thức ăn không đòi hỏi chất lượng cao. nuôi cá rô phi đang ngày càng nhận được sự quan tâm của người nuôi và diện tích thả nuôi tăng hàng năm.
Cá rô phi cũng góp phần tăng tỷ trọng sản phẩm thủy sản xuất khẩu nuôi từ nước ngọt. Việc phát triển nuôi cá rô phi thương phẩm ở các hệ thống ao, lồng trên sông, hồ theo hướng công nghiệp tập trung đòi hỏi cần có quy trình công nghệ tiên tiến, ổn định để áp dụng. Tuy nhiên trong quá trình nuôi với các hình thức khác nhau, người nuôi đều nhận thấy rằng: cá rô phi vằn có khả năng tự sinh sản, tuổi thành thục từ 6 - 7 tháng tuổi, đẻ nhiều lần trong năm, cá cái ấp trứng trong miệng, không ăn do vậy kích cỡ cá cái thương phẩm thường nhỏ hơn cá đực rất nhiều khi được nuôi cùng một điều kiện mà lại không quản lý được mật độ cá nuôi, kích cỡ cá không đồng đều, ảnh hưởng đến năng suất của sản phẩm. Chính vì vậy cá rô phi vằn cần được chuyển giới tính đực để đạt năng suất, giá trị sản phẩm cao.
Thực tế nhu cầu về con giống cá rô phi đơn tính đực ở nước ta ngày càng tăng trong khi đó những cơ sở sản xuất giống hiện không đáp ứng đủ nhu cầu của người nuôi. Mặt khác do sử dụng các dòng cá rô phi địa phương để sản xuất giống đơn tính nên chất lượng con giống của nhiều cơ sở sản xuất vẫn chưa đảm bảo về chất lượng khiến cho người nuôi gặp nhiều rủi ro như cá chậm lớn, cỡ cá thương phẩm nhỏ dẫn đến năng suất nuôi thấp. n 2 Chính vì vậy, Trung tâm Khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh đã tìm tòi, nghiên cứu và sản xuất thành công giống cá rô phi đơn tính Cát Phú. Đây là giống cá rô phi đơn tính có nhiều ưu điểm vượt trội so với các giống cá trên thị trường hiện nay.
Cá rô phi đơn tính Cát Phú có khả năng chịu lạnh nên có thể nuôi qua đông không cần biện pháp trú đông, mình cá dày, tỉ lệ thịt cao. Với lý do trên em thực hiện đề tài: “Kỹ thuật ương giống cá rô phi đơn tính Cát Phú tại trung tâm khoa học kỹ thuật và sản xuất giống thủy sản Quảng Ninh”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Áp dụng kỹ thuật ương cá rô phi đơn tính Cát phú. - Đánh giá hiệu quả của kỹ thuật ương nuôi cá rô phi đơn tính Cát Phú 1.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học - Kết quả nghiên cứu của đề tài là tư liệu tham khảo góp phần nâng cao hiểu biết và làm phong phú thêm những kiến thức mang tính khoa học về kỹ thuật ương giống cá rô phi đơn tính đực Cát Phú. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài có thể áp dụng trong công tác sản xuất giống cá nước ngọt ở quy mô trang trại và nông hộ. n 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Cơ sở khoa học 2. Một số đặc điểm sinh học của cá rô phi 2. Phân loại Hệ thống phân loại cá rô phi: Bộ cá vược: Perciformes Họ: Cichlidae Giống: Oreochromis Loài cá rô phi vằn: O. Cá rô phi vằn Dựa trên cách phân loại mới của Trewavas (1983) [30], phân loại các loài cá rô phi trên thế giới thành ba giống, dựa trên cơ sở di truyền và tập tính sinh sản của chúng: - Tilapia có kiểu sinh sản là khi đẻ cần có giá thể để trứng bám.
Cá làm tổ đẻ bằng cỏ rác. Sau khi đẻ, cả cá cái và cá đực cùng nhau tham gia bảo vệ tổ. Loài thủy sản quan trọng là T. - Sarotherodon với kiểu sinh sản là cá đào tổ đẻ.
Cá đực hoặc cá cái, hoặc cả cá đực và cá cái cùng ấp trứng trong miệng. Loài thủy sản quan trọng là S. n 4 - Oreochromis có kiểu sinh sản là Cá đực đào tổ đẻ. Chỉ có cá cái ấp trứng trong miệng.
Các loài thủy sản quan trọng là O. Trong 3 loài cá trên có khoảng 8 - 9 loài có giá trị trong nuôi trồng thủy sản. Trong các loài có giá trị, cá rô phi vằn O. niloticus, cá rô phi xanh O.
aureus và cá rô phi hồng Oreochromis sp được coi là quan trọng nhất hiện nay, đang được nuôi phổ biến ở hầu hết các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Ngô Văn Chiến (2008) [4] cho biết: Cá rô phi được di nhập vào nước ta lần đầu tiên là cá rô phi đen Oreochromis mosambicus. Cá rô phi đen có khả năng thích ứng cao với các điều kiện nuôi khác nhau, có tỷ lệ sống cao ở môi trường ao nuôi kể cả khi có hàm lượng oxy hòa tan thấp, cá thích ứng tốt với môi trường nước có độ mặn… tuy nhiên cá chậm lớn, đẻ nhiều và sớm, kích cỡ cá nhỏ, do vậy không được người nuôi ưa thích. Năm 1973 cá rô phi vằn Oreochromis niloticus được nhập từ Đài Loan vào nước ta, cá rô phi vằn nhanh lớn, nhịp đẻ thưa hơn so với cá rô phi đen, cá nhanh chóng trở thành đối tượng nuôi có triển vọng, được nuôi rộng rãi trong cả nước.
Tuy nhiên do công tác giữ giống thuần không tốt, nên hiện tượng lai tạp giữa cá rô phi vằn và rô phi đen xảy ra khá phổ biến, làm suy giảm chất lượng cá giống. niloticus là loài có sức tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao trong môi trường nước ngọt và có khả năng nuôi ở vùng nước lợ có độ mặn dưới 20‰ (Trích theo Bongco, 1991 [22]). Loài cá này đã được di nhập đến nhiều quốc gia trên thế giới. Để phân biệt cùng loài cá rô phi O.niloticus khi được thuần hóa vào nước ta, loài O.niloticus này được gọi với cái tên khác nhau như: dòng Việt (loài O.niloticus được nhập vào nuôi ở Việt Nam từ Đài Loan năm 1973), dòng Thái (nhập năm 1994 từ Thái Lan), dòng GIFT (là dòng cá rô phi chọn giống từ 8 dòng cá của O.niloticus ở Philippin của dự án “Nâng n 5 cao chất lượng di truyền về cá rô phi” thuộc Trung tâm quốc tế về bảo vệ quản lý nguồn lợi Thủy Sản – ICLARM Phiippin).
Đặc điểm sinh sản của cá rô phi (Oreochromis) Sinh sản luôn luôn là một hiện tượng có tính chất chu kỳ, đó là sự thích nghi của cơ thể đối với điều kiện ngoại cảnh. Sinh sản thương xảy ra vào cacsmuaf có sự thuận lợi nhất cho sự sống còn và phát triển của thế hệ mới. Ở những nơi mà điều kiện sống tương đối ổn định, sinh sản vẫn diễn ra 1 cách chu kỳ do sự đòi hỏi phải tích lũy năng lượng để chin muồi một loạt trứng non và sự sinh sản cuarcas diễn ra rất phù hợp với nhịp điệu thiên nhiên. Ở những nước nhiệt đới, sau khi cá trưởng thành đến tuổi phát dục, trong điều kiện nhiệt độ và dinh dưỡng thuận lợi, cá có thể sinh sản quanh năm.
Sự phát dục và thành thục lần đầu của cá rô phi phụ thuộc vào các loài cá, môi trường sống và chế độ dinh dưỡng của cá, nhìn chung cá rô phi O.niloticus thành thục muộn hơn so với cá rô phi O. Nếu trong điều kiện nuôi dưỡng thuận lợi, giàu dinh dưỡng, cá rô phi lớn nhanh và phát dục ở kích cỡ lớn, ngược lại nếu sống trong điều kiện nuôi dưỡng không đầy đủ, cá thành thục ở kích thước nhỏ (Low – McConell, 1982) [26]. Trong tự nhiên cá rô phi thành thục lần đầu sau 4-6 tháng tuổi, khi cá đạt 100 -150g (Heppher và Pruginin, 1982 [24]; Nguyễn Công Dân, 1998 a,b [6,7]). Chu kỳ sinh sản của cá rô phi có thể kéo dài 3 – 4 tuần , cá rô phi có thể sinh sản tới 12 lần trong 1 năm.
Khi nhiệt độ nước xuống dưới 200C cá ngừng sinh sản (Nguyễn Công Dân và Trần Văn Vỹ, 1996) [5]. Sự hình thành và phát triển tuyến sinh dục của cá rô phi phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như tuổi cá, cỡ cá, chế độ dinh dưỡng, nhiệt độ nước, độ muối. Ở Việt Nam do điều kiện nhiệt đới nên cá sinh sản gần như quanh năm, riêng miền bắc nước ta có n 6 mùa đông nên thời điểm đầu vụ xuân và cuối vụ thu thường xảy ra hiện tượng cá bố mẹ thì đẻ được nhưng trứng ấp kéo dài đến khi nở thành cá bột thì bị dị hình nhiều, đưa vào xử lý đơn tính đực hay bị bệnh nên hao nhiều tỷ lệ sống chỉ đạt khoảng 10 - 30%. Cá rô phi thuộc nhóm đẻ trứng nhiều lần trong năm, mỗi lần đẻ từ vài trăm đến vài nghìn trứng.
Sau khi đẻ, giải phẫu buồng trứng có thể quan sát thấy tất cả các pha phát triển của noãn bào từ thể noãn bào non nhất cho tới trạng thái trứng chin sẵn sang rụng. Nghiên cứu sự phát triển của buồng trứng cá rô phi cho thấy, sự phát triển của trứng cũng được chia thành 6 giai đoạn: Tiêu chuẩn phân chia giai đoạn đợc dựa vào kích thước của noãn bào có trong nang buồng trứng. Tacon và ctv, (1996) [28] mô tả tóm tắt 6 giai đoạn phát triển của tế bào trứng cá rô phi như sau (Bảng 2. Các giai đoạn phát triển buồng trứng của cá rô phi theo Tacon và ctv, 1996 [28].
Giai đoạn Kích thƣớc noãn bào (µm) I 500 – 700 II 800 – 1000 III 1100 – 1300 IV 1400 – 1600 V > 1700 VI 500 – 700 + >1700 Cá cái kích thước nhỏ thường thành thục sớm và dễ đẻ hơn so với cá cái kích thước lớn, cá cái lớn và già hơn thường đẻ nhiều trứng hơn cá cái nhỏ. Để phân biệt cá đực và cá cái của rô phi người ta dựa vào hình thái bên ngoài và phương pháp giải phẫu tuyến sinh dục. Phân biệt cá đực và cá cái qua đặc điểm hình thái bên ngoài (Lê Văn Thắng, 1999) [13] Đặc điểm Cá đực Cá cái phân biệt Nhỏ, hàm dưới trề do ngậm Đầu To và nhô cao trứng và con Màu sắc Vi lưng và vi đuôi sặc sỡ Màu nhạt hơn Lỗ niệu sinh 2 lỗ: lộ niệu sinh dục và lỗ 3 lỗ: lỗ niệu, lỗ sinh dục và lỗ dục hậu môn hậu môn Hình dạng Đầu thoát lỗ niệu sinh dục Dạng tròn hơi lồi và không huyệt dạng lồi, hình nón dài và nhọn như cá đực.