Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở khoa học của phân bón đến hoa lan. Lan rất cần phân bón nhưng không chịu được nồng độ cao, vì vậy việc bón phân cho lan phải thực hiện thường xuyên và tốt nhất bằng cách phun qua lá.
Phân bón cho lan phải chứa đầy đủ các yếu tố dinh dưỡng đa, trung vi lượng với thành phần và tỷ lệ phù hợp với từng thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây. Nguyên tắc chung là thời kỳ sinh trưởng thân lá mạnh cần hàm lượng đạm cao, hàm lượng lân và hàm lượng kali thấp, trước khi ra hoa cần lân và kali cao, đạm thấp, khi nở hoa, lan cần kali cao, lân và đạm thấp hơn. Có thể dùng phân vô cơ và phân hữu cơ loãng sẽ cho kết quả tốt cho sự sinh trưởng. Trước mùa ngừng sinh trưởng một tháng, trong suốt một tháng cho lan loại phân 10:20:30 hoặc 6:30:30 để tạo sự cứng cáp cho cây trước khi vào mùa nghỉ (dẫn theo Hoàng Xuân Lam, 2014), [9].
Theo Minh Trí, Xuân Giao (2010), [28], lan rất mẫn cảm với các yếu tố thừa, thiếu các yếu tố dinh dưỡng. Các triệu chứng về bệnh lý khi thừa hoặc thiếu yếu tố dinh dưỡng nào đó thường biểu hiện khá rõ. Đối với hoa Lan Hồ Điệp các loại NPK được bón theo độ tuổi của cây (Trung tâm ứng dụng tiến bộ khoa học cộng nghệ Bình Định),[33]: + Cây lan từ 0 - 6 tháng tuổi: phun NPK 30-10-10 với nồng độ 0,5g/lít, định kỳ 3 ngày/lần. + Cây lan từ 6- 12 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20- 20-20; nồng độ NPK 1 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần.
+ Cây lan từ 12-18 tháng tưổi: phun xen kẽ NPK 30-10-10 và NPK 20- 20-20; nồng độ NPK 2 gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần. 5 + Cây lan từ 18-24 tháng tuổi: phun xen kẽ NPK 10-30-30 + NPK 10- 60-10; nồng độ NPK 2gam/lít, định kỳ 5 ngày/lần. Trên cơ sở của việc bón phân cho hoa lan ở các thời điểm khác nhau, sử dụng các loại phân bón khác nhau. Chúng tôi nhận thấy trong sản xuất cần nghiên cứu nhiều hơn nữa về phân bón cho lan nhằm làm tăng hiệu quả trong trồng lan Hồ Điệp.
Cơ sở khoa học của nghiên cứu về ánh sáng đối với hoa lan Tùy theo các loài phong lan khác nhau và yêu cầu sống cần ánh sáng nhiều hay ít. Tuy nhiên không loài phong lan nào không cần ánh sáng vì lá cây cần ánh sáng đề quang hợp, tạo lên chất hữu cơ để nuôi cây. Theo Nguyễn Công Nghiệp (2000), [16] Phong lan có thể chia thành 3 nhóm: - Nhóm ưu sáng có thể chịu được 90 – 100% ánh sáng trực tiếp như các loài: Vanda, Archnis… - Nhóm chịu bóng chỉ cần 30 – 40% cường độ ánh sáng như: Phalaenopsis, Paphiopedium… - Nhóm trung bình cần khoảng 50% cường độ ánh sáng như: Dendrobium, Eria… Ánh sáng cung cấp năng lượng cho cây thông qua quá trình quang hợp. Ánh sáng còn ảnh hưởng đến quá trình hình thanh hoa và nở hoa.
Sự phát triển của cây tăng theo tỷ lệ với cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng đến mức độ nhất định và khi vượt mức độ đó sẽ ngừng tăng trưởng. Vì thế, một trong những nguyên tắc cơ bản của của việc chăm sóc lan là phải làm thế nào để cây lan được nhiều ánh sáng nhưng không gây hại đến cây. Nó yêu cầu có ánh nắng mặt trời nhưng lại không thể phơi ngoài nắng gắt. Phải có độ râm nhất định.
Cần thiết phải làm giàn che nắng cho cây. Tùy thuộc vào từng loài mà có chế độ che nắng cần thiết cho thích hợp. 6 Lan Hồ Điệp rất kỵ ánh sáng chiếu trực tiếp, do đó cần phải có biện pháp che ánh sáng đồng thời tùy thuộc vào tuổi cây lớn nhỏ mà có biện pháp điều chỉnh ánh sáng cho phù hợp. Thời kỳ ươm cây con nhu cầu ánh sáng ở cường độ là 10.000 lux, giai đoạn bánh tẻ là 12.000 lux, giai đoạn thúc ra hoa là 20.
Trong điều kiện trồng trong nhà lưới, mùa Hè và Thu phải che 75 – 85 % ánh sáng, cần phải có 2 lớp che ánh sáng đặt chồng lên nhau mùa Đông thì ánh sáng yếu hơn, chỉ cần chè 40 – 45% ánh sáng là đủ (Đào Thanh Vân, 2007), [35]. Cơ sở khoa học của các chất điều tiết sinh trưởng cho hoa lan. Chất điều hòa sinh trưởng thực vật (còn gọi là các hocmon sinh trưởng) là những chất được sinh ra trong cây để điều khiển các quá trình sinh trưởng phát triển của cây. Mỗi giai đoạn được điều khiển bởi một nhóm chất nhất định.
Ở thời kỳ sinh trưởng lớn lên có nhóm chất kích thích sinh trưởng. Tới mức độ nhất định cây tạm ngừng sinh trưởng để chuyển sang thời kỳ phát triển ra hoa, kết quả thì có nhóm chất ức chế sinh trưởng được hình thành. Trong nghề trồng hoa, việc sử dụng chất điều hoà sinh trưởng có nhiều thuận lợi hơn vì hoa không phải là thực phẩm cho người và vật nuôi, do đó các ảnh hưởng độc hại của chất điều hoà sinh trưởng ít ảnh hưởng đến sức khoẻ con người. Tác dụng của chúng nhanh và rõ rệt, có thể làm thay đổi một số đặc điểm thực vật học của cây hoa như: chiều cao cây, màu sắc, thời gian sinh trưởng, sự ra hoa, chất lượng và tuổi thọ của hoa,… Chất điều tiết sinh trưởng thực vật là chất dinh dưỡng nên không thể thay thể phân bón.
Các chất này thường biểu hiện tác dụng ở những liều lượng rất thấp và hiệu quả có thể thay đổi tùy theo từng giai đoạn sinh trưởng cây. Vì vậy, muốn đạt hiệu quả cao cần phải sử dụng theo đúng hướng dẫn. Tình hình sản xuất hoa lan trong và ngoài nước. Tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới.
7 Trong những năm gần đây tình hình sản xuất hoa lan trên thế giới đang phát triển một cách mạnh mẽ và đã trở thành một ngành thương mại cho lợi nhuận rất cao. Sản xuất hoa lan đang mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế các nước trồng và xuất khẩu hoa. Diện tích trồng hoa trên thế giới ngày được mở rộng và không ngừng tăng lên. Hiện nay, tại Trung Quốc việc sản xuất, kinh doanh lan Hồ Điệp phát triển rất mạnh.
Giai đoạn từ năm 2000-2006 mỗi năm tăng 20ha, gia đoạn từ 2006 – 2009 mỗi năm tăng 33ha và tới năm 2014 mỗi năm tăng 65ha. Sản lượng từ năm 2000 tăng 100000 cây/ha/năm đến năm 2007 tăng gấp 3 lần (Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh), [32]. Đài Loan có khí hậu ấm áp, mưa nhiều gần giống với khí hậu Việt Nam nên có thể sản xuất hoa tươi quanh năm. Đài Loan chú trọng đầu tư nhiều vào nuôi trồng, sản xuất, kinh doanh hoa lan Hồ Điệp.
Hiện nay, Đài Loan có diện tích sản xuất hoa lan Hồ Điệp khoảng 200ha chiếm 1/3 diện tích trồng lan. Vùng sản xuất chính tập trung chính ở Đài Loan, Gia Nghĩa, Vân Lâm và Đài Đông, Sản lượng trung bình hàng năm đạt 150 triệu cây (Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh), [32]. Theo số liệu thống kê của Ủy ban nông nghiệp và Tổng cục thuế - Bộ tài chính Đài Loan cho thấy, kim ngạch xuất khẩu mặt hàng hoa năm 2010 đạt 149 triệu USD, trong đó lan Hồ Điệp chiếm 55% tổng kim ngạch ngành hoa tương đương 82,55 triệu USD tăng 32% với 2009 (62,68 triệu USD). Các sản phẩm xuất khẩu là cây giống đã ra ngôi, cây non nuôi cây mô chưa ra ngôi và hoa cắt cành.
Cây giống thương phẩm có giá trị xuất khẩu cao nhất, năm 2010 ước đạt 80% tổng kinh ngạch xuất khẩu (Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh), [32]. Xếp hạng thị trường xuất khẩu chính của Đài Loan Tên nước Nhật Mỹ Hà Hồng Đan Anh Canada Tổng giá (%) (%) Lan Kông Mạch (%) (%) trị Năm (%) (%) (%) (1000USD) 2006 45,3 36,8 5,7 2,4 2,2 28,296 2007 40,9 37,6 6,4 3,5 2,4 38,922 2008 39,4 37,6 6,3 3,8 2,5 37,113 2009 37,9 45,8 3,7 2,1 1,8 44,497 2010 35,1 42,8 4,1 3,6 2,4 66,68 Nguồn: Trung tâm nghiên cứu và phát triển hoa cây cảnh, [32]. Thống kê cho thấy thị trường xuất khẩu lớn nhất của Đài Loan từ năm 2004 – 2008 là Nhật Bản, đứng thứ 2 là Mỹ, sau 2009, Mỹ lại vượt lên đứng đầu. Tính trung bình hai nước này chiếm 80% lượng hoa Hồ Điệp của Đài Loan, năm 2010 giá trị xuất khẩu đạt 34,37 triệu USD tăng 27,7% so với năm 2009 (27,33 triệu USD).
Tình hình sản xuất hoa lan tại Việt Nam. Việt Nam với điều kiện khí hậu nóng ẩm rất thuận lợi cho việc phát triển ngàng trồng hoa, cây cảnh để trở thành một ngành công nghiệp hoa. Tuy nhiên, do chưa được đầu tư thích đáng nên ngành trồng hoa nói chung và ngành trồng hoa lan nói riêng chưa phát triển theo đúng với tiềm năng của nó. Theo thống kê năm 1993 tổng cộng diện tích trồng hoa của Việt Nam là 1.
Tuy nhiên diện tích sản xuất hoa lan chỉ chiếm xấp xỉ 10%, riêng hoa lan nhiệt đới qua các năm từ năm 2003 – 2005 đã tăng từ 20 ha lên 50 ha (tăng 50%). Xu hướng tiêu dùng hoa lan đã tăng lên đáng kể và dự đoán sẽ tăng mạnh trong thập niên tới do Việt Nam đã là thành viên của các tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và các thành viên của tổ chức kinh tế khác trên 9 thế giới sẽ là yếu tố tăng mạnh đầu tư nước ngoài làm tăng các dịch vụ du lịch, tổ chức hội nghị Quốc tế (Phan Húc Huân, 1989), [7]. Tại Viện sinh học nông nghiệp (thuộc Học viện nông nghiệp), đã cho ra đời hàng vạn cây hoa lan có giá trị kinh tế như: Hồ Điêp, Cát lan, Lan Thái…. Ngoài ra, viện còn cố vấn kỹ thuật, chuyển giao quy trình nuôi trồng ở các tỉnh như Hải Dương, Quảng Ninh….
Ở Hà Nội, trong những năm trở lại đây, khi đời sống người dân thủ đô được nâng cao, nhu cầu thưởng thức hoa trong đó co hoa lan tăng cao. Do vậy nguồn cung ứng và sản xuất từ các địa phương khác rất nhiều. Thành phố Hồ Chí Minh với khí hậu ấm áp quanh năm, có một tiềm năng lớn về nuôi trồng và kinh doanh hoa lan. Vào năm 1986, lần đầu tiên một quy trình nhân giống, nuôi trồng lan Dendrobium cấy mô từ lan con đến nở hoa đã được hãng hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất kết hợp với vườn lan T78 thử nghiệm thành công (Khuất Thị Ngọc, 2007), [18].
Theo số liệu điều tra bước đầu, tính đến năm 1986, trong thành phố có khoảng 15 gia đình có vườn lan với số lượng từ 1.