Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về cây hoa lan 1. Nguồn gốc và phân loại hoa lan 1. Nguồn gốc của hoa lan Hoa lan (Orchidaceae) là một trong đỉnh cao của sự tiến hóa các loài cây có hoa.
Hoa lan được con người biết đến rất sớm. Ở châu Á, danh từ Lan là tên có từ xa xưa trong tứ thư, ngũ kinh và cả trong kinh dịch của Bách Gia Chi Tử (Trung Quốc 551 - 479 trước Công Nguyên). Hoa lan được tượng trưng cho người quân tử. Khổng Tử đã hết lời ca ngợi hoa lan và có lẽ là người đầu tiên coi hoa lan là vua của các loài hoa (Nguyễn Tiến Bân, 1997) [2].
Người ta cứ tưởng rằng cây lan được biết đến trước tiên ở châu Âu qua bản viết tay bằng chữ Hy Lạp “Xem xét cây cỏ” (Enquiry into Plants) của Theophrastus (khoảng năm 370 - 479 trước Công nguyên). Chữ Lan như vậy đã xuất hiện rất lâu đời tại Trung Hoa. Cây lan được biết đến đầu tiên ở Trung Hoa là Kiến lan (được tìm thấy đầu tiên ở tỉnh Phúc Kiến), mà tên khoa học sau này được đặt là Cymbidium Ensifolium. Lan với người phương Đông được tượng trưng cho tình yêu và vẻ đẹp, Lan còn tượng trưng cho sự đông đủ con cái (phúc).
Vì Khổng Tử ví lan với đức cao quý cho nên theo thời gian lan cũng đồng nghĩa với người quân tử. Hương thơm của lan biểu tượng cho tình bạn. Ở phương Tây, tuy cây Lan được biết đến sau nhưng lại được chú ý đến bởi công dụng về dược liệu của nó sau đó mới đến vẻ đẹp của hoa. Phrastus - được coi là ông tổ của thực vật học và cũng có thể nói là cha đẻ của ngành học về lan đã dùng chữ Hy Lạp(Orkis) để chỉ những cây lan được tìm thấy ở vùng Địa Trung Hải.
Đến thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, Dioscorides đã dùng chữ Orchis để mô tả hai loài địa lan trong quyển sách về dược liệu của ông và sau này được Linnaeus ghi lại trong quyển “Các loài cây cỏ” (Species Plantarum) vào năm 1753. Sau đó được n 4 John Lindley sử dụng đầu tiên để đặt cho họ lan là: Orchidaceae từ năm 1836 và tên phân loại đó được tồn tại cho đến ngày nay (Phạm Hoàng Hộ, 1972)[8]. Ở Việt Nam, dấu tích của những nghiên cứu về Lan ở buổi ban đầu không rõ rệt lắm. Những khảo sát ban đầu về lan ở Việt Nam là của Joanis Loureiro, một nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora Cochinchinesis” trong một cuộc hành trình đến Nam phần Việt Nam và đã được Bentham và Hoocker ghi lại trong “Enera Plantarum” (1862 - 1883) (Nguyễn Quang Thạch và Cộng Sự, 2008)[20].
Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình được công bố, đáng kể là của: F. Guillaumin mô tả 101 giống gồm 750 loài lan cho cả ba nước Đông Dương trong bộ “Thực vật chí Đông Dương” do H. Lecomte chủ biên ở quyển 6 xuất bản từ năm 1932 – 1934 (Phạm Hoàng Hộ, 1972)[8]. Một số tác giả khác cũng đề cập đến lan Việt Nam như.
Bên cạnh đó một số người Việt Nam cũng bước đầu nghiên cứu về lan như ông Trương Đấu. đáng kể nhất là quyển II “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” của giáo sư Phạm Hoàng Hộ với 289 loài lan được mô tả và vẽ hình. Mới đây ông cũng đã bổ sung thêm 364 loài lan trong quyển III tập 2 của bộ sách “Cây cỏ Việt Nam” xuất bản năm 1993 nâng tổng số lan có ở Việt Nam là 653 loài (Phạm Hoàng Hộ, 1993)[23]. Lan được người chơi chia làm hai dòng chính là Địa lan và Phong lan.
Trong đó, phong lan lại có hai nhánh là lan bản địa (lan Việt Nam) và Catlan (phiên âm qua tiếng Hán của lan Cattleya) được du nhập vào Việt Nam. Catlan có nguồn gốc từ những cánh rừng Nhiệt đới vùng Amazon Nam Mỹ, được những nhà thám hiểm châu Âu đưa về cựu lục địa. Sau này, nó theo chân những người Pháp đến Việt Nam cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20. Catlan tuy hơn hẳn lan bản địa vì nhiều màu sắc nhưng thực sự không thể so sánh được về mùi hương.
Bởi lan bản địa là lan vừa có hương vừa có sắc, hương thì ngọt ngào quyến rũ, sắc thanh tao ấn tượng. Cho đến nay, thế giới đã biết được trên 750 giống với 25.000 loài tự nhiên và 75.000 loài do kết quả chọn lọc và lai tạo. Trên khắp thế giới, hầu như nơi nào có thực vật là có lan. Nhưng số lượng nhiều ít khác nhau rất lớn liên quan mật thiết đến nhiệt độ cao.
Mỗi loài có một cách phân bố và phát triển rất riêng biệt cho kiểu dáng n 5 và kích cỡ của cây lan, sự khác biệt đó không chỉ vì xuất xứ từ các lục địa khác nhau mà còn có khi ở ngay trong một vùng địa lý vài kilomet vuông. Vị trí phân bố cây hoa lan Họ lan là một họ có tính chất toàn cầu, chúng xuất hiện và có mặt mọi nơi trên trái đất nhưng có khoảng 4/5 tập trung ở các vùng nhiệt đới. Những vùng khí hậu khắc nghiệt như khu vực gần các địa cực thuộc Bắc Cực và Nam Cực người ta vẫn thấy sự xuất hiện của hoa lan.Tuy nhiên số lượng địa lan ở đây rất ít ỏi chỉ có một vài loài địa lan với sức sống vô cùng mạnh mẽ. Ở các vùng Ôn Đới hoa lan bắt đầu phong phú hơn, phân bố nhiều loài địa lan sống sát mặt đất.
Họ phong lan phân bố từ 680 vĩ Bắc đến 560 vĩ Nam, nghĩa là từ gần cực Bắc như Thuỵ Điển, Aleska, xuống tận cuối cùng ở cực nam của Ostralia. Tuy nhiên tập trung phân bố của họ này là ở trên các vĩ độ nhiệt đới, đặc biệt châu Mỹ và Đông nam á. Ngay ở các vùng nhiệt đới họ phong lan cũng phân bố rộng khắp từ vùng đầm lầy sát Biển Hồ qua các đồi núi thấp lên các vùng núi cao. Mặc dù đa số các loài lan chỉ mọc ở độ cao dưới 2000 m so với mặt nước biển, song có một số ít loài sống cả ở độ cao 5000m so với mặt nước biển (ở Colômbia có một số loài phong lan sống ở núi quanh năm tuyết phủ).
(Việt Chương, Nguyễn Việt Thái, 2002)[3] Ở Châu Á, các nước Thái Lan, Lào Campuchia, Việt Nam. Các nước Châu Mỹ như Venezuela, Colombia. có các chi Cattleya, Miltonia. Theo presley (1951) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài, trong đó có Dendrobium có 1.400 loài, chi phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài (Nguyễn Tiến Bân)[2] Theo Briger (1971), ở vùng khí hậu ôn hoà số lượng loài giảm đi nhanh chóng và rõ rệt.
Bắc bán cầu có khoảng 75 chi và 900 loài. Nam bán cầu có khoảng 40 chi và 500 loài, toàn Châu Âu có khoảng 120 loài và Bắc Mỹ khoảng 170 loài (Nguyễn Tiến Bân)[2] n 6 Theo R. Dresler (1981) ở Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài, Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài như Colombia có 1.300 loài và Tân Ghinê có 1.450 loài (Phan Thúc Huân, 1987)[5] Vào năm 1981 Presley cho rằng: Châu Á nhiệt đới đặc biệt Đông Nam Ấ có khoảng 250 chi và 6.800 loài chủ yếu là Dendrobium và Vanda. Châu Mỹ nhiệt đới có khoảng 306 chi và 8.266 loài thuộc các loại như Catleya, Epidendron.
Châu phi có rất ít lan do khí hậu không thích hợp. Châu Đại Dương có các loài lan phân bố rộng rãi như Dendrobium, Cymbidium. Các vùng Ôn Đới thuộc Châu Âu, Mỹ,Á, có số lượng loài cũng không nhiều do khí hậu khắc nghiệt (Hoàng Ngọc Thuận, 2003)[17] Theo Trần Hợp (1990) hệ thực vật họ phong lan nước ta vô cùng phong phú, chúng phân bố từ bắc vào nam. Một số loài chỉ xuất hiện ở các tỉnh phía bắc, một số khác chỉ phân bố ở các tỉnh phía nam, số ít phân bố rộng từ bắc vào nam làm cho sự phân chia về phân bố khá phức tạp [6].
Tuy nhiên có thể sơ bộ chia sự phân bố đó làm 6 khu vực sau: - Khu Đông Bắc Bộ: đây là nơi có vĩ độ cao và khí hậu lạnh nhất nước ta, tập trung một số loài lan Á Nhiệt Đới, Nhiệt Đới như Cymbidium, Phalaenopsis, Vanda, Paphiopedium, Dendrobium. - Khu Tây Bắc Bộ: nằm ở vị trí có vĩ độ cao, tuy nhiên có nhiều dãy núi che chắn và có gió lào vào mùa hè nên các loài lan ở đây chịu nóng tốt hơn như: Eria, Bulbophylum, Rhynchostylis, Dendrobium. - Khu Trường Sơn Bắc: đây là vùng chuyển tiếp của khu hệ phong lan miền Bắc và miền Nam. Một số loài chủ yếu: Habenaria, Phaius, Flickingeria, Dendrobium.
- Khu Trường Sơn Nam: do địa hình chia cắt nhiều nên các loài lan phân bố ở đây rất phức tạp, có những loài Nhiệt Đới và Á Nhiệt Đới, đặc biệt có loài chịu khô nóng kéo dài như: Eria, Cleisostoma, Liparis., loại chịu ẩm như Bromheadia, Calanthe. n 7 - Khu Đồng Bằng Miền Nam: khí hậu ở đây nhiệt đới với 2 mùa mưa và khô rõ rệt. số lượng loài phong lan, tập trung chủ yếu các loài: Bulbophyllum, Acampe, Dendrobium, Eria. - Khu Đảo: các loài chủ yếu: Bulbophylium, Apostasia, Liparis, Eria.
Phân loại hoa lan Theo hệ thống phân loại của viện sĩ hàn lâm Liên Xô Taktajan cùng Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến (1978), cây hoa lan được phân loại như sau: Giới: Plantae Ngành mộc lan: (hạt kín-Magnoliophyta) Lớp hành: (1 lá mầm – Liliopsida), phân lớp hành (Lilidae), Bộ lan: (Orchidales) Phân họ lan: (Orchidaceae). Họ lan là 1 một họ lớn đứng thứ hai trong ngành Mộc lan, vô cùng phong phú, phức tạp và được phân bố trên những vùng địa lý khác nhau. Vào năm 1753, Linnê đã dùng luôn danh từ Orchid để chỉ các loài lan. Đến năm 1836, John Lindley (1779 – 1865) dùng danh từ Orchid để chỉ chung cho các loài lan và từ đó các loài lan được xếp thành một họ trong hệ thống phân loại gọi là Orchidaceae.
Ông công bố, sắp xếp các tông thuộc họ lan và tên của họ lan được dùng cho đến ngày nay (Trần Văn Bảo, 2002)[1]. Theo Taktajan (1980) họ lan được chia thành 3 họ phụ, tuy nhiên theo phân tích dầy đủ và chuyên sâu đặc tính di truyền của các nhà khoa học đã chia họ lan thành 6 họ phụ (Trần Hợp, 1990)[6] - Apostasicideae - Orchidadeae- Epidendroideae - Cypridicideae- Vandoideae- Neottioideae Theo Leonid V. Averyanova (2003)[28] Việt Nam hiện nay người ta đã biết được 897 loài thuộc 152 chi. Chúng chiếm khoảng 75 - 80% trong tổng số loài lan ước tính có ở nước ta.