Đặt vấn đề Rừng là nguồn tài nguyên quan trọng của mỗi quốc gia. Rừng không những là cơ sở để phát triển kinh tế - xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu, đảm bảo chu chuyển O2 và một yếu tố cơ bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định màu mỡ của đất, giúp giảm thiểu sức tàn phá khốc liệt của các thiên tai làm sạch nguồn nước giúp ổn định nguồn nước ngầm tránh hạn hán gây mất mùa và làm giảm mức ô nhiễm không khí. Việt nam là một nước nhiệt đới nằm trong vùng Đông nam á, có tổng diện tích tự nhiên là 331.700 km2, kéo dài từ vĩ độ 9o Bắc tới 23o Bắc, trong đó diện tích rừng và đất rừng là 20 triệu ha, chiếm khoảng 60% diện tích toàn quốc (Tổng cục thống kê, 1994). Diện tích rừng tự nhiên đến năm 1999 cho thấy: có tổng số 8.000 ha rừng tự nhiên của nước ta có 5.000 ha rừng cây lá rộng thường xanh, trong đó rừng giàu chiếm 567.500 ha (11%), rừng trung bình 1.000 ha (33,1%) và rừng nghèo 2.
Rừng giàu đa số ở vùng cao, dốc khó khai thác (Đỗ Đình Sâm, 2001). [5] Hệ thực vật rừng Việt nam rất phong phú và đa dạng, khoảng 11.000 loài thuộc trên 2.900 loài cây có ích ở nước ta thuộc gần 1.000 chi, 230 họ, song chắc chắn con số này còn tăng lên hơn nữa nhờ các nghiên cứu, điều tra tỉ mỉ hơn trong tương lai. Tuy nhiên, có một số nguyên nhân làm cho tài nguyên rừng ngày càng thu hẹp đó là áp lực về dân số của các vùng tăng nhanh, nghèo đói người dân sinh kế chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên rừng với trình độ dân trí vùng xâu vùng xa còn thấp chính vì vậy việc khai thác tài nguyên rừng không có kế hoạch cụ thể dẫn đến những loài cây bản địa có giá trị kinh tế cao hầu như bị khai thác một cách triệt để. 1 e Cây Vù hương còn gọi là Gù hương có tên khoa học là Cinnamomum balansae H.lec thuộc họ Re (Lauraceae) là loài đặc hữu hẹp của Việt Nam mới chỉ gặp ở Ba Vì (Hà Nội) Cúc Phương (Ninh Bình), (sách đỏ Việt Nam, 1996).
Theo Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) thì Vù hương có phân bố rải rác ở khu vực đồi núi thấp ở một số tỉnh miền núi phía Bắc như: Ba Vì (Hà Nội) Cúc Phương (Ninh Bình), Thạch Thành (Thanh Hoá), Cầu Hai (Phú Thọ). Trong tự nhiên Vù hương thường mọc cùng một số loài cây khác như: Re gừng (Cinnamomum parthenoxylon), Bứa (Garcicia sp). Vù hương tái sinh tự nhiên rất kém và bị chặt phá nhiều nên hiện nay các cá thể còn lại rất ít và rải rác. Vù hương được xếp vào loại hiếm (R).
Nguyên nhân khiến cây Vù hương ngày càng trở nên quý hiếm là do cây Vù hương có giá trị kinh tế rất cao. Về gỗ hiện nay gỗ Vù hương được bán với giá khoảng trên 20 triệu đồng/m3 gỗ tròn cao gấp 2 lần gỗ Lát hoa. Về tinh dầu thì tinh dầu Vù hương (còn gọi là dầu Xá xị, thường được chưng cất từ lá, cành, gốc, rễ) cách đây trên 10 năm được bán tại lò chưng cất với giá 1 triệu đồng/lít (tương đương với 2 chỉ vàng/lít) ở thời điểm đó. Ở Trung Quốc rễ, thân dùng trị cúm, cảm mạo, ăn uống không tiêu bụng đầy trướng, đau dạ dày, viêm khớp xương do phong thấp, tiêu hóa không bình thường, ho gà, lỵ, còn lá dùng trị ngoại thương xuất huyết, quả dùng trị cảm mạo sốt cao, bệnh sởi.
Hiện nay, dù Nhà nước đã cấm triệt để việc khai thác nhưng cây Vù hương vẫn đang bị khai thác mang tính tận diệt. Chính từ thực trạng đã nói ở trên tôi tiến hành thực hiện đề tài. “Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương (Cinnamomum balansae H.Lec) tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ” được đặt ra là hết sức cần thiết. Mục tiêu nghiên cứu * Về lý luận: Xác định được biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương.
2 e * Về thực tiễn: Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật gây trồng cây Vù hương tại huyện Đoan Hùng tỉnh Phú Thọ. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học Trong quá trình thực hiện đề tài tạo cơ hội tiếp cận các phương pháp nghiên cứu khoa học, để giái quyết vấn đề khoa học ngoài thực tiễn; Làm quen với một số phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu đề tài cụ thể; Học tập và hiểu biết thêm về kinh nghiệm, kỹ thuật trong thực tiễn tại địa bàn nghiên cứu. Ý nghĩa thực tiễn Biết cách tiếp cận thực tiễn những vấn đề trong sản xuất, kinh doanh rừng, quản lý nguồn tài nguyên rừng, nâng cao tính bền vững của hệ sinh thái rừng hiện nay; Tìm ra được biện pháp kỹ thuật gây trồng tốt nhất mang lại hiệu quả hữu hiệu nhất cho bà con trong quá trình gây trồng cây Vù hương tại địa phương.
3 e Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Vù hương (Cinnamomum balansae H.Lec) thuộc họ Re (Lauraceae) là loài đặc hữu hẹp ở Việt Nam mới chỉ gặp ở Ba vì(Hà Nội), Cúc Phương (Ninh Bình), (sách đỏ Việt Nam, 1996) [1]. Theo tên gọi phía Bắc là Vù hương còn đối với miền Nam còn được gọi là Xá xị. Gỗ Vù hương có hai mầu đặc trưng là sẫm đỏ và vàng nhạt tùy theo điều kiện sống, Vù hương bị thực dân pháp khai thác từ xưa nên trong tự nhiên đa phần chỉ tìm thấy ở dạng lũa hoặc gỗ tận dụng còn dạng gỗ ván với đường kính to rất hiếm.
Loài cây này có những công dụng hết sức thiết thực cho con người mà ở những loài cây khác không có, tinh dầu, dầu hạt trong y học được dùng để chữa đau tê thấp. Ở Trung Quốc rễ, thân dùng trị cúm, cảm mạo ăn uống không tiêu, bụng đầy trướng, đau dạ dày, viêm khớp xương do phong thấp, ho gà, lỵ và còn dùng trị ngoại thương xuất huyết, quả dùng để trị cảm mạo sốt cao, bệnh sởi. Tuy vậy, hiện nay cá thể còn lại của loài cây này trong tự nhiên còn rất ít cần được bảo tồn và đưa ra những biện pháp gây trồng phù hợp. Tình hình nghiên cứu trong nước và trên thế giới 2.
Tình hình nghiên cứu trên thế giới Để nâng cao năng xuất và duy trì tính bền vững của rừng trồng trên cả 3 mặt: kinh tế, xã hội và môi trường các nhà lâm sinh học đã tập trung vào việc nghiên cứu tuyển chọn tập đoàn cây trồng sao cho phù hợp với từng điều kiện lập địa. Việc tuyển chọn loài được thực hiện đồng bộ từ khâu chọn giống, tạo giống (lai, ghép) sản xuất cây con, trồng, chăm sóc, khai thác, tái sinh rừng. Để giảm thiểu tối đa các nhược điểm của rừng trồng thuần loài như dễ bị sâu bệnh, cháy rừng giữ đất, giữ nước kém… Các nghiên cứu về phương thức hỗn giao, loài cây hỗn giao, thời điểm hỗn giao đóng một vai trò 4 e hết sức quan trọng. Nó đảm bảo cho rừng trồng ổn định, bền vững về năng xuất và môi trường.
Đồng thời đa dạng về sản phẩm. Các nghiên cứu về giống cây trồng rừng Trong sản xuất nông nghiệp ngoài những yếu tố khách quan như thời tiết, khí hậu, sâu bệnh hại…thì 4 nhân tố quyết định đến năng suất là “nước, phân, cần, giống”. Tuy nhiên, đó là quan niệm đã cũ của “lão nông tri điền”. Ngày nay khoa học đã phát triển đặc biệt là sự phát triển của khoa học công nghệ sinh học thì yếu tố quan trọng đầu tiên, quyết định đến việc tăng năng xuất cây trồng đó là giống cây.
Chỉ có giống mới mở ra bước đột phá về năng suất. Chỉ có giống mới không ngừng nâng cao chất lượng của sản phẩm. Chính giống cây trồng là yếu tố đầu tiên quyết định đến sự thành bại của công tác gây trồng rừng và năng suất chất lượng rừng trồng. Nhận thức được tầm quan trọng của giống cây rừng trong công tác trồng rừng, ngay từ giữa thế kỷ XX nhiều đề tài, nhiều chương trình chọn giống đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới.
Alan Longman đã bỏ ra 20 năm để nghiên cứu về công việc trồng rừng trong đó có việc chọn và cải thiện giống cây rừng nhiệt đới ở châu Phi. Ông đã nghiên cứu về các rủi ro ngẫu nhiên, những khó khăn về tổ chức xã hội và những vấn đề về sinh vật cản trở đến công việc trồng rừng. Theo ông các rủi ro bất ngờ gồm: cháy rừng, gió bão, lũ lụt, hạn hán…Những khó khăn về tổ chức xã hội gồm: sự yếu kém về trình độ chuyên môn và sự thiếu kinh nghiệm của đội ngũ nhân viên. Sự đầu tư tài chính của nhà đầu tư (Nhà nước hoặc tư nhân).
Điều kiện công nghệ và sự thiếu thông tin. Các vấn đề về sinh vật theo ông gồm: sự thiếu hạt giống tốt và sự nảy mầm của hạt, sự khó khăn trong ra rễ của hom, sự sinh trưởng không vừa ý và sự không phù hợp với điều kiện lập địa của cây rừng. Về chọn và cải thiện giống ông tập trung chủ yếu vào các nghiên cứu về sản xuất giống và gây trồng bằng phương pháp 5 e hom và nuôi cấy mô. Theo ông, 80% cây rừng nhiệt đới có thể tạo giống từ hom và sử dụng phương pháp này là thích hợp nhất đối với các nước nghèo có điều kiện khoa học công nghệ chưa phát triển ứng dụng, các kết quả nghiên cứu của ông tại Wanariset Station tỉnh Kalimatan Indonesia người ta đã thiết lập một hệ thống các biện pháp kỹ thuật từ khâu chọn giống, sản xuất cây con bằng phương pháp giâm hom, tạo nấm cộng sinh cho cây con trong vườm ươm và các biện pháp kỹ thuật gây trồng (trồng rừng, cải tạo rừng, làm giàu rừng) cho hàng chục loài cây họ Dầu và một số loài cây quý khác tại địa phương [8].
(1993) các chương trình chọn giống đã bắt đầu ở nhiều nước từ nửa đầu của thế kỷ trước. Ở Brazil năm 1952; ở Mỹ năm 1966; ở Úc năm 1970 và 1973 đã công bố một số công trình nghiên cứu về chọn cây trội và xây dựng vườn giống cho các loài E. Tương tự 150 cây trội đã được chọn ở rừng tự nhiên cho loài E.diversicolor ở Úc và loài E.deglupta ở Papua New Guinea. Những công trình nghiên cứu chọn lọc và tạo giống gây trồng mới đã mang lại hiệu quả mang tính đột phá tới việc tăng năng xuất rừng trồng, cao gấp 2 - 3 lần trước đây.
Ở Brazil có những khu rừng có năng xuất từ 70 - 80m3/ha/năm.