mở đầu cho thay đổi lớn trong cơ cấu cây trồng nông nghiệp và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm canh tang vu. cho rằng cần đặt hệ thống cây trồng trong hệ thống canh tác [38]. Sau du canh là sự ra đồi của các phương thức Taungya ở vùng nhiệt đối. Tanngya được đánh giá như một dấu hiệu báo trước cho các phương thức sử dụng đất sau này (Nair, 1987).
Theo Blanford, Nguồn gốc của phương thức may được xuất phát từ một địa phương, dé chỉ phương thức du canh. Sau đó được sử dụng để miêu tả phương pháp phục hồi rừng Miến điện vào những năm 1850-1858, do nhà tu bản Anh Dictaich Brandis vận dụng trong nghiên cứu tấi sinh rừng Tếch (Blanford, 1958), Từ khi Dictaich Brandis cho những người dân sở tại (lầm thuê) được tiến hành trồng cây nông nghiệp ngắn ngày kết hợp dưới rừng Tếch, ông đã rút ra kết luận là có thể trồng rừng Tếch với gi rất thấp. Sau đó hai thập kỷ, hệ thống canh tác taungya được cdi tiến sửa đổi và dân dân được hoàn thiện, phổ biến trên toàn thế giới và được coi như là một hệ thống sử dụng đất có hiệu quả kinh tế, lẫn môi trường sinh thái. Theo thông báo của FAO năm 1990, đến nay đã có tới 117 nước trên thế giới áp dụng phương thức này.
‘He thống Taungya được mọi người biết đến với nhiều tên gọi khác nhau; Ở một số nước các tên gọi được biểu thị cho sự đặc biệt của phương thức du canh: ở Tndonexia người ta gọi là Tưmbansang; Kaigining ở Philippin; Ladang ở Malaixia; China ở Srilanka; ở Ấn Độ do đặc điểm về điều kiện tự nhiên và những cộng đồng người ở các vùng khác nhau nên tên gọi có đa dạng hơn; Kumvi, Jooming Ponam,Taila, và Takle; ở Đông Phi gọi là Sbamba, Parcelero, Puếc tô - Ri cô Công- ở Braxin.(42] sa-xa “Theo Von Hesmen (19664970) và King (1979), hầu hết các rừng tring ở vùng nhiệt đới đều được hình thành từ những phương thức này, đặc biệt là châu Á và châu Phi. (24] Như vậy, có thể thy du canh là một hệ thống canh tác trong đó các loài cây nông nghiệp và lâm akhigy sinh trưởng kế iếp nhau, còn Taungya bao gồm sự kết hợp đồng thời của cả hai loài cây trong giai đoạn đầu của quá trình hình thành rừng trống, Đứng trên quan điểm sử dung, quản lý đất thì cả hai quá trình trên đều có "một điểm tương đồng là những cây nông nghiệp được sử dụng một cách tt nhất bởi nhờ lớp thảm mục của cây gỗ (cành nhánh rụng. độ phì của đất được làm tang chính xuống). Hiện nay dân số thé giới đã lên tới khoảng 6 ti người.
Theo số liệu của FAO, trên thế giới hiện có 1,476 ti ha đất nông nghiệp dang được sử dựng. Trong đó: Dit có độ dốc là 973 trigu ha chiếm 65,9 %, đất dốc nhiều (Steeply Sioping lands). "Độ đốc 10? trở lên có 377 triệu ha chiếm 25,5 % (Sheng, 1988; Hudson, 1988; Cent, 1989), Trong quá tình sử dụng con người đã làm thoái hoá khoảng 1,4 tỉ ha đất “Theo Norman Mayer (1993), hàng năm trên toàn cấu mất khoảng 11 triệu ha đất nông nghiệp do các nguyên nhân xới mòn và sa mạc hoá, nhiễm độc hoặc bị chuyển hod sang các dạng khác. ‘Theo thông báo của FAO, đến năm 1980, Các loại bình quảng canh và du canh trên toàn thế giới chiếm tới 45% diện tích đốt nông nghiệp.
Đây là nguyên hân chủ yếu gây nên tình trạng xói mòn, thoái hoá đất làm giảm năng suất cây trồng. Do những yêu cầu của mình, con người ñgày cảng xâm hại đến rừng để lấy lâm sản và đất canh tác, làm cho diện tích rừng ngày càng bị thủ hẹp, de dọa đến môi trường sống. ‘Theo dự báo của tổ chức dân số thể giới, nếu với tốc độ tăng tưởng dân số cđiễn ra như hiện nay thì đến năm 225 dân số thế giới sẽ lên tới 8 tỷ người, tập trưng chủ yếu ở các nước thuộc thế giới thứ II. Borlaug (1996) cho rằng: cũng như trước đây, loài người vẫn sống dựa vào lương thực, đặc biệt là hạt ngũ cốc, để thoä mãn nhủ cấu cần thiết ngày càng tăng của mình.
Nếu như mức tiêu thy lương thực theo đóu người vẫn giữ nguyên như hiện nay tự tăng trưởng dân số thế giới đồi hồi rb Kok năng suất lương thực thô thêm 2,6 tỷ tấn vào nam 2025, tức là tăng 57% šo với năm 1990. Nếu như những người nghèo thuộc các nước dang phát triển (ước tính khoảng 1 tỷ người) được cải thiện khẩu phẩn án, thì sản lượng lương thực thể giới hàng năm phải tăng gấp đôi (tương đương 4,5 tỷ tấn) vào nim 2025 [4]. Theo kỷ yếu sản xuất của FAO và tinh toán của Norman E.Borlang thì nguồn lương thực từ ngũ cốc của thế giới mới chỉ có thể đạt 3,97 tỷ tấn vào năm 2025 [4]. Chính vì vậy, quỹ đất nông nghiệp sẽ phải tăng để bù lại sự thiếu hye lương thực và cống là hướng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Cũng theo Norman thì cơ hội để mở mang thêm dit mới cho trồng trọ đã được tận dụng gần hết, nhất là đối với vùng đông dan châu A, châu Âu [4]. Thực tế thì đất đai mở. mang có hạn và không thể nào đáp ứng được mức độ gia tăng dân số tự nhiên trên toàn cầu. Theo Ducal (1978), trong vòng 20 năm từ 1957-1977 dat canh tác trên thế giới tang thêm 150 triệu ha bằng 10% đất dai có khả năng khai hoang cho nông nghiệp và bằng 9% đất canh tác lúc đó, trong khi đó mức độ tăng trưởng dân số thế giới đã tăng tới 40%.
Nguồn lương thực sản xuất ra trên đất mới khai hoang chỉ dit muôi sống 1/3 lượng din số ting lên. {Chúng ta déu biết, tinh trang mất rừng do áp dung những hệ thống canh tác lạc hậu đã làm cho tài nguyên đất bị suy kiệt nghỉêđĩ trọng làm cho năng suất cây trồng bị giảm sắt. Vi vậy, để thoả mãn nhu cáo lương thực ngẫy càng tăng con người tim cách ải quyết theo một trong hai hướng chính; Tăng năng suất cây trồng bing việc tận dụng tối đa tiém năng của các loại đất, thảm canh ting mùa vụ và mỡ rộng diện tích canh tác. Để làm được điều đó, công tác điều tra khảo sit, nghiên cứu, phân loại và ánh giá đất dai để tim ra giải pháp sử dung đái có hiệu quả nhất trên cơ sở quy hoạch sử dụng đất hợp lý, chuyển đề cơ cấu cây trồng vật nuôi và đặc biệt là theo hướng nghiền cứu đánh giá lổng hợp tiềm năng của đất dai cho các mục tiêu sử dụng bên vững đã tở thành một Yeu cầu rất bức thiết.
+ Cong cuộc tìm tồi các giải pháp nhằm nang cao sin lượng lương thực và khắc phục tình trạng tiếu hist về lượng ngũ cốc, đã thúc đẩy các nhà khoa học nghiên cứu giải pháp vÄ dộng đất dai bên vững. Một trong những thành công của các nghiên cứu là: đã tì ra hệ thống kỹ thuật canh tác trên đất dốc (SALT) nhằm. sử dung đất dốc bên ving đã được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao Philipin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ giữa những năm 1970 đến nay (34). Cho đến năm 1992, đã có 4 mô hình tổng hợp về kỹ thuật canh tác nông nghiệp bên vững trên đất đốc được các tổ chức quốc tế ghỉ nhận đó là: P ~ Mô hình SALTI (Sloping Agriculture Land Technology) dây là mô bình tổng hợp dựa trên cơ sở các biện pháp bảo vệ đất với sản xuất lương thự.
Kỹ thuật canh tác nông nghiệp trên dit đốc với cơ cấu 25% cây lâm nghiệp + 25% cây lưu niên (nông nghiệp) + 50% cây nông nghiệp hàng năm. ~ Mô hình SALT2 (Simple Agro-Livestock Technology). Đây là mô hình kinh tế nông súc kết hợp đơn giản với cơ cấu 40% cho nông nghiệp + 20% lãm nghiệp + 20% chin nuôi + 20% làm nhà ở và chuồng trại. + Mô hình SALT3 (Sustainable Agro-Forest Land Technology).
Kỹ thuật canh tác nông - lâm kết hợp bên vững, Co cấu sử dụng đất là 40% nông nghiệp + 60% Lâm nghiệp mô hình này đồi bồi đầu tư cao cả về nguồn lực và vốn lag cũng nhữ sự higa biết. ~ Mô hình SALTS (Small Agrofruit Likelihood Technology). Day là mô hình kỹ thuật sản xuất nông lâm nghiệp với cây ăn quả kết hợp với quy mô nhỏ. Cơ cấu sử dung đất dành cho lâm nghiệp 60%, dành cho nông nghiệp 15% Và dành cho cây ăn quả la 255, Đây là mô hình đồi hỏi phải đầu tư cao cả về nguồn lực, vốn liếng cũng như kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm.
Ben cạnh những mô hình cảnh tác trên đất dốc ở trên, mdi Quốc gia còn nghiên cứu và để xuất các mo hì0h thích đụng riêng. Mô hình Taungya ở Thái lin If mô hình làng lâm nghiệp, trong đó nhà nước cấp đất để làm nhà ở + vuời là 0,16 ha và mỗi hộ nhận 1,6 ha để trồng rừng, ting cây nông nghiệp, Nhà nước hỗ trợ hệ thống đường giao thông, y tế và giáo duc [55]. 6 Ấn Do, quê Autry củ: "cuộc cách mạng xanh", phương thức sử dụng đất chủ yếu là mô hình trồng xen giữa các loài cây công nghiệp, lương thực, 26, tre nứa theo hệ thống nong lim kết hợp được bố tr rất khoa học và hết sức chat chế có xem xét đến diéu kiện kinh tế xã hội cụ thể nơi gây trồng [52). 'Ö Inđônexia từ năm 1972, việc chon đất để trồng cây lâm nghiệp đều do.
cong ty Lâm nghiệp nhà nước tổ chức. Nông dân được cán bộ của công ty hướng cdẫn trồng cây nông nghiệp, lâm nghiệp, sau khi trồng củy nông nghiệp hai năm nông dân bàn giao lại rừng cho công ty, sản phẩm nông nghiệp họ toàn quyền sử 10 cdụng. Ngoài ra ở day còn có mô hình làng Lâm nghiệp "Ladang” rất được chú ¥ 154. ‘VE nghiên cứu hệ thống canh tác, vào năm 1990, FAO đã xuất bản cuốn “phát triển hệ thống canh tác".
Cong trình đã chỉ rõ phương pháp tiếp cận nông. thôn trước đây là phương pháp tiếp cận một chiéu từ trên xuống, đã không phát huy. được tiêm năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Thông qua nghiền cứu và thực tiễn, ấn phẩm đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới - phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người din, nhằm phát triển các hệ thống trang trại trong cộng đồng, nông thôn trên cơ sở bên vững, Hệ thống nông trại là cất nông hộ được chia làm ba phần cơ bản [30]: ~ Nông hộ - đơn vị ra quyết định.
~ Trang trại và các hoạt động. ~ Các thành phần ngoài trang tri. Vé mặt phương pháp luận đã sử dụng đánh giá nhanh nông thôn có sự tham.