Tổng quan nghiên cứu

Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), mỗi năm toàn cầu ghi nhận khoảng 600 triệu ca mắc bệnh truyền qua thực phẩm và 420.000 trường hợp tử vong, tạo ra gánh nặng lớn cho hệ thống y tế và an sinh xã hội. Tại Việt Nam, giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 10 năm 2016 đã ghi nhận 1.007 vụ ngộ độc thực phẩm với 30.395 người mắc và 164 ca tử vong. Đáng chú ý, các vụ ngộ độc xảy ra tại bếp ăn hộ gia đình chiếm tỷ lệ cao nhất lên đến 51,97% tổng số vụ, cho thấy nguy cơ tiềm ẩn ngay trong bữa ăn hàng ngày. Tại tỉnh Tiền Giang, từ năm 2012 đến 2016 đã xảy ra 21 vụ ngộ độc thực phẩm với 1.536 người mắc, trong đó ghi nhận 5 vụ ngộ độc tại hộ gia đình làm 27 người mắc và 2 trường hợp tử vong do độc tố tự nhiên.

Người nội trợ đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát chất lượng dinh dưỡng và ngăn ngừa ngộ độc thông qua các hành vi lựa chọn, chế biến và bảo quản thực phẩm. Nghiên cứu của học viên Võ Thị Trúc Phương được thực hiện tại Phường 3, thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang trong năm 2018 nhằm giải quyết hai mục tiêu trọng tâm: mô tả thực trạng kiến thức, thực hành về an toàn thực phẩm ở hộ gia đình của người nội trợ, đồng thời xác định các yếu tố liên quan đến kiến thức và thực hành này. Kết quả nghiên cứu là căn cứ khoa học quan trọng giúp ngành y tế dự phòng và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm tỉnh Tiền Giang thiết kế các chương trình can thiệp truyền thông trọng điểm, hướng tới mục tiêu giảm thiểu nguy cơ ngộ độc thực phẩm tại cộng đồng dân cư đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên Luật An toàn thực phẩm số 55/2010/QH12 cùng các hướng dẫn chuyên môn của Bộ Y tế và Tổ chức Y tế Thế giới. Hai mô hình nền tảng được tích hợp gồm mô hình "5 chìa khóa an toàn thực phẩm" của WHO (giữ sạch, tách biệt thực phẩm sống và chín, nấu chín kỹ, giữ thực phẩm ở nhiệt độ an toàn, sử dụng nước và nguyên liệu an toàn) và "10 nguyên tắc vàng trong chế biến thực phẩm an toàn" do Cục An toàn thực phẩm ban hành.

Hệ thống khái niệm trọng tâm trong đề tài bao gồm: an toàn thực phẩm, ngộ độc thực phẩm, ô nhiễm thực phẩm, sơ chế và chế biến thực phẩm. Khung phân tích dịch tễ học giả định rằng kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm của người nội trợ chịu sự tác động đồng thời của nhóm yếu tố cá nhân (độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn, nghề nghiệp, thời gian làm nội trợ, điều kiện kinh tế hộ gia đình, quỹ thời gian mua sắm và nấu nướng) cùng nhóm yếu tố môi trường (khả năng tiếp cận truyền thông, kênh tiếp nhận thông tin và tập quán sinh hoạt tại địa phương).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế cắt ngang mô tả có phân tích, triển khai từ tháng 2 năm 2018 đến tháng 8 năm 2018 tại Phường 3, thành phố Mỹ Tho – một phường trung tâm có diện tích 0,54 km2 với 2.512 hộ gia đình và 9.089 nhân khẩu.

Cỡ mẫu nghiên cứu được xác định theo công thức ước lượng một tỷ lệ trong quần thể với độ tin cậy 95% (tương ứng hệ số Z bằng 1,96), sai số tuyệt đối chấp nhận được d bằng 0,06 và tỷ lệ dự đoán kiến thức đạt p bằng 0,438 lấy từ nghiên cứu tương đồng trước đó, cho ra cỡ mẫu tối thiểu là 256 người nội trợ. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống được áp dụng thông qua việc lập danh sách 2.512 hộ gia đình trên địa bàn 7 khu phố, xác định khoảng cách mẫu k bằng 9 và bốc thăm ngẫu nhiên hộ xuất phát đầu tiên để chọn đủ 256 đối tượng thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn.

Công cụ thu thập dữ liệu là bộ câu hỏi phỏng vấn trực tiếp chuẩn hóa gồm 17 câu hỏi đánh giá kiến thức và 14 câu hỏi đánh giá thực hành; tiêu chuẩn đạt yêu cầu được tính khi đối tượng trả lời đúng từ 80% tổng điểm trở lên. Dữ liệu được làm sạch, mã hóa và phân tích trên phần mềm SPSS phiên bản 20. Nghiên cứu sử dụng thống kê mô tả để tính tần số, tỷ lệ phần trăm và áp dụng kiểm định Chi-bình phương hoặc phép kiểm chính xác Fisher cùng tỷ số chênh OR với khoảng tin cậy 95% để lượng hóa mối liên quan giữa các biến số độc lập với kiến thức và thực hành. Quy trình nghiên cứu tuân thủ nghiêm ngặt chuẩn mực đạo đức y sinh học theo Quyết định phê duyệt số 143/2018/YTCC-HD3 của Hội đồng Đạo đức Trường Đại học Y tế công cộng.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát trên 256 người nội trợ cho thấy bức tranh tổng thể về kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm tại hộ gia đình còn nhiều hạn chế đáng lo ngại:

Thứ nhất, tỷ lệ người nội trợ đạt chuẩn kiến thức chung chỉ đạt 40,2% (103/256 người). Xét theo từng lĩnh vực, kiến thức lựa chọn thực phẩm đạt 59,4%, kiến thức bảo quản đạt 59,0%, trong khi kiến thức chế biến thực phẩm đạt tỷ lệ thấp nhất với 41,4%. Đáng chú ý, mức độ nhận biết các loài động vật có chứa độc tố tự nhiên chỉ đạt 28,1%; trong đó chỉ có 27,0% đối tượng nhận biết cá mặt quỷ có độc và 34,0% nhận biết các loại hải sản màu sắc sặc sỡ có độc, dù tỷ lệ nhận biết cá nóc đạt tới 96,1%.

Thứ hai, tỷ lệ người nội trợ đạt chuẩn thực hành chung ở mức thấp với 31,6% (81/256 người). Trong đó, thực hành lựa chọn thực phẩm đạt cao nhất với 72,7%, thực hành bảo quản đạt 62,1%, nhưng thực hành chế biến thực phẩm an toàn chỉ đạt 32,4%. Điểm yếu lớn nhất trong khâu chế biến là kỹ thuật rửa rau củ đúng cách chỉ đạt 33,6%, dù có tới 98,8% người nội trợ duy trì thói quen dùng riêng dao thớt cho thực phẩm sống và chín.

Thứ ba, nghiên cứu xác định mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức với nhóm tuổi và trình độ học vấn (p < 0,05). Người nội trợ trên 40 tuổi có tỷ lệ kiến thức đạt thấp hơn đáng kể so với nhóm từ 40 tuổi trở xuống với tỷ số chênh OR bằng 0,42 (khoảng tin cậy 95%: 0,23 - 0,79). Nhóm có trình độ học vấn trên trung học cơ sở có tỷ lệ đạt kiến thức cao gấp 2,7 lần so với nhóm có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống (OR = 2,7; khoảng tin cậy 95%: 1,62 - 4,5; p < 0,001).

Thứ tư, tồn tại mối liên hệ mật thiết giữa kiến thức chung và thực hành chung (p < 0,001). Những người nội trợ có kiến thức đạt chuẩn có khả năng thực hành đúng cao gấp 20,9 lần so với nhóm có kiến thức không đạt.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ lệ kiến thức đạt 40,2% và thực hành đạt 31,6% tại Phường 3 tương đồng với các nghiên cứu trước đây tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và miền Bắc, như nghiên cứu của Phạm Nghĩa Bình tại Sóc Trăng với thực hành đạt 40,5% hay nghiên cứu của Đinh Mai Vân tại Bắc Ninh với 83% người nội trợ không đạt kiến thức chung.

Nguyên nhân chính khiến thực hành chế biến đạt tỷ lệ thấp (32,4%) bắt nguồn từ việc người nội trợ chưa nắm vững kỹ thuật ngâm rửa rau quả dưới vòi nước chảy để loại bỏ tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, cũng như chưa hiểu rõ các nguy cơ lây nhiễm vi sinh vật từ bàn tay và nguồn nước. Trong khi đó, việc người nội trợ chú trọng xem nhãn mác (98,8%) và dùng riêng dao thớt (98,8%) cho thấy những thông điệp truyền thông cơ bản đã phát huy tác dụng, nhưng chiều sâu thực hành vẫn chưa đồng đều.

Dữ liệu nghiên cứu này có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ thanh so sánh tỷ lệ đạt giữa các khâu lựa chọn, chế biến, bảo quản và các bảng tiếp liên 2x2 biểu diễn tỷ số chênh OR. Sự khác biệt rõ nét về học vấn (OR = 2,7 đối với kiến thức và OR = 2,2 đối với thực hành) cùng yếu tố nghề nghiệp (người làm nội trợ chuyên trách có thực hành kém hơn nhóm làm công việc khác với OR = 0,49) khẳng định rằng khả năng tiếp cận và xử lý thông tin y tế đóng vai trò quyết định đến việc thay đổi hành vi vệ sinh thực phẩm tại gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng dịch tễ học thu được, luận văn đưa ra hệ thống giải pháp can thiệp đồng bộ nhằm nâng cao năng lực an toàn thực phẩm cho cộng đồng:

Thứ nhất, tăng cường truyền thông đa phương tiện có định hướng trọng tâm do Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm Tiền Giang chủ trì phối hợp cùng Đài Phát thanh - Truyền hình tỉnh. Kế hoạch triển khai từ quý 1 năm 2019 với tần suất phát sóng 3 buổi mỗi tuần trên khung giờ vàng, tập trung phổ biến cách nhận diện động vật, thực vật chứa độc tố tự nhiên và kỹ năng chọn thực phẩm tươi sống, phấn đấu nâng tỷ lệ nhận biết độc tố tự nhiên của người dân từ 28,1% lên trên 65% sau 12 tháng.

Thứ hai, đổi mới phương thức tập huấn thực hành tại chỗ do Trung tâm Y tế thành phố Mỹ Tho phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Phường 3 thực hiện. Các buổi sinh hoạt chuyên đề cần hướng dẫn trực quan kỹ thuật rửa rau 3 nước dưới vòi chảy và các bước vệ sinh dụng cụ bếp, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ thực hành rửa rau đúng từ 33,6% hiện tại lên 75% cho hội viên phụ nữ trong giai đoạn 2019-2020.

Thứ ba, chuẩn hóa và phân phối tài liệu truyền thông ngắn gọn dạng infographic và sổ tay gia đình do Trạm Y tế Phường 3 phụ trách. Hoạt động cấp phát tài liệu hướng dẫn bảo quản thực phẩm chín và kiểm tra bao bì hàng hóa sẽ được hoàn thành tại 100% các tổ dân phố thuộc 7 khu phố trong vòng 6 tháng kể từ khi ban hành kế hoạch.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát liên ngành và công khai minh bạch các cơ sở vi phạm an toàn thực phẩm trên hệ thống loa truyền thanh phường. Ban Chỉ đạo An toàn thực phẩm Phường 3 duy trì kiểm tra định kỳ hàng quý, phấn đấu nâng tỷ lệ thực hành an toàn thực phẩm chung của người nội trợ toàn địa bàn từ 31,6% lên trên 60% vào năm 2022.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho nhiều nhóm đối tượng chuyên môn:

Nhóm thứ nhất là cán bộ quản lý y tế dự phòng và Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm. Nghiên cứu cung cấp bộ chỉ số dịch tễ học thực địa chuẩn xác với 40,2% tỷ lệ đạt kiến thức và 31,6% tỷ lệ đạt thực hành, làm cơ sở dữ liệu đầu vào để xây dựng các đề án can thiệp giảm thiểu ngộ độc thực phẩm quy mô cấp tỉnh và thành phố.

Nhóm thứ hai là giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Y tế công cộng, Y học dự phòng và Dinh dưỡng học. Luận văn là tài liệu tham khảo điển hình về phương pháp thiết kế nghiên cứu cắt ngang, kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với khoảng cách mẫu k bằng 9 trên quy mô 2.512 hộ dân, cũng như phương pháp phân tích tỷ số chênh OR trên phần mềm SPSS.

Nhóm thứ ba là cán bộ y tế tuyến cơ sở tại các Trạm Y tế xã, phường và cán bộ Hội Phụ nữ. Tài liệu cung cấp cơ sở để phân nhóm đối tượng ưu tiên can thiệp, đặc biệt là nhóm phụ nữ trên 40 tuổi và người có trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia truyền thông giáo dục sức khỏe và phát triển cộng đồng. Luận văn cung cấp bằng chứng về xu hướng ưa chuộng kênh truyền thông của người dân, trong đó kênh truyền hình chiếm ưu thế vượt trội với 78,5%, giúp tối ưu hóa ngân sách và nâng cao hiệu quả các chiến dịch thay đổi hành vi xã hội.

Câu hỏi thường gặp

Thực trạng kiến thức và thực hành an toàn thực phẩm của người nội trợ tại Phường 3 đạt mức nào? Kết quả khảo sát trên 256 người nội trợ cho thấy tỷ lệ đạt chuẩn chung còn khá thấp, với 40,2% đạt về kiến thức và 31,6% đạt về thực hành. Điểm yếu nhất nằm ở khâu chế biến thực phẩm khi tỷ lệ kiến thức đạt chỉ là 41,4% và thực hành đạt 32,4%, đặc biệt là kỹ thuật rửa rau quả đúng cách chỉ đạt 33,6%.

Yếu tố nào có ảnh hưởng mạnh nhất đến nhận thức an toàn thực phẩm của người nội trợ? Trình độ học vấn và độ tuổi là hai yếu tố có ảnh hưởng rõ rệt nhất. Người nội trợ có trình độ học vấn trên trung học cơ sở có tỷ lệ kiến thức đạt cao gấp 2,7 lần so với nhóm có học vấn thấp hơn (p < 0,001). Ngược lại, người trên 40 tuổi có mức độ đạt kiến thức thấp hơn đáng kể so với nhóm trẻ tuổi với tỷ số chênh OR bằng 0,42.

Tại sao thực hành chế biến thực phẩm lại là khâu có tỷ lệ đạt thấp nhất trong nghiên cứu? Thực hành chế biến đạt thấp (32,4%) chủ yếu do người nội trợ duy trì thói quen rửa rau chưa bảo đảm với 66,4% không đạt yêu cầu ngâm rửa dưới vòi nước chảy. Ngoài ra, nhiều người chưa nhận thức đầy đủ nguy cơ ô nhiễm chéo từ nguồn nước, côn trùng và phụ gia thực phẩm, dù tỷ lệ dùng riêng dao thớt đạt tới 98,8%.

Mối liên hệ giữa kiến thức đúng và hành vi thực hành đúng được thể hiện ra sao? Nghiên cứu chứng minh mối tương quan thuận rất chặt chẽ giữa nhận thức và hành động với mức ý nghĩa thống kê p < 0,001. Những người nội trợ có kiến thức an toàn thực phẩm đạt chuẩn có xác suất thực hành đúng cao gấp 20,9 lần so với những người có kiến thức không đạt, khẳng định nâng cao nhận thức là điều kiện tiên quyết để cải thiện hành vi.

Người nội trợ tại địa phương ưu tiên tiếp nhận thông tin an toàn thực phẩm qua kênh nào? Truyền hình là phương tiện truyền thông được người nội trợ ưa chuộng nhất với tỷ lệ 78,5% lựa chọn, theo sau là hệ thống loa truyền thanh cơ sở với 8,6%. Về mặt nội dung, có 47,3% người nội trợ mong muốn được tăng cường thông tin hướng dẫn cách chọn mua thực phẩm và 22,3% quan tâm đến tác nhân gây ô nhiễm cùng các bệnh truyền qua thực phẩm.

Kết luận

Nghiên cứu đã phác họa bức tranh toàn diện và khách quan về thực trạng vệ sinh an toàn thực phẩm tại hộ gia đình ở đô thị Tiền Giang:

  • Tỷ lệ người nội trợ đạt kiến thức chung ở mức 40,2% và thực hành chung đạt 31,6%, phản ánh khoảng trống lớn giữa nhu cầu an toàn bữa ăn và năng lực thực hành thực tế.
  • Khâu chế biến thực phẩm là mắt xích yếu nhất trong chuỗi an toàn thực phẩm tại gia đình với tỷ lệ thực hành đạt chỉ 32,4% và tỷ lệ rửa rau đúng cách chỉ 33,6%.
  • Nghiên cứu đã xác định các yếu tố nguy cơ chính gồm độ tuổi trên 40 (OR = 0,42), trình độ học vấn từ trung học cơ sở trở xuống (OR = 2,7) và nhóm nội trợ chuyên trách (OR = 0,49).
  • Mối liên hệ có ý nghĩa thống kê khẳng định người có kiến thức đạt có khả năng thực hành đúng cao gấp 20,9 lần so với nhóm không đạt (p < 0,001).
  • Nghiên cứu đóng góp bộ công cụ và bằng chứng thực địa tin cậy từ 256 hộ gia đình, làm căn cứ triển khai chiến lược can thiệp giai đoạn 2019-2022.

Các cơ quan quản lý y tế, chính quyền địa phương và các tổ chức đoàn thể cần nhanh chóng bắt tay vào hành động, triển khai đồng bộ các lớp tập huấn kỹ năng thực hành và chiến dịch truyền thông đa kênh để bảo vệ sức khỏe cho từng gia đình và toàn xã hội.