Tổng quan nghiên cứu

Biến đổi khí hậu đang tạo ra những thách thức chưa từng có đối với sinh kế nông thôn tại Việt Nam, nơi có khoảng hai phần ba dân số phụ thuộc trực tiếp vào sản xuất nông nghiệp. Tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, ngành nông nghiệp - lâm nghiệp chiếm tới 67,2% tổng lực lượng lao động xã hội, với hơn 95% dân số là đồng bào các dân tộc thiểu số như Tày, Nùng, Dao, Mông. Khu vực này sở hữu địa hình chia cắt phức tạp ở độ cao trung bình 600m, khiến hệ sinh thái canh tác vô cùng nhạy cảm trước các hiện tượng thời tiết cực đoan như rét đậm, sương muối, hạn hán và lũ quét.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm xuất phát từ thực tiễn sản xuất nông nghiệp tại vùng cao còn manh mún, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên và năng lực thích ứng với biến đổi khí hậu của nông hộ còn bị động. Điển hình trong năm 2017, dịch bệnh lùn sọc đen do biến động thời tiết đã gây thiệt hại mất trắng 40,3 ha lúa tại xã Quảng Khê, chiếm tới 15% tổng diện tích vụ mùa của xã. Trong bối cảnh đó, kho tàng kiến thức bản địa lâu đời của đồng bào dân tộc thiểu số trở thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhưng chưa được hệ thống hóa đầy đủ.

Mục tiêu của luận văn là đánh giá thực trạng biểu hiện và tác động của biến đổi khí hậu đến sản xuất nông nghiệp, phân tích thực trạng ứng dụng các kinh nghiệm, kỹ thuật truyền thống của người dân tộc thiểu số, đồng thời xác định các yếu tố chi phối quyết định thích ứng để đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả sinh kế. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi 3 xã trọng điểm là Khang Ninh, Nam Mẫu và Quảng Khê thuộc vùng lõi và vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể với tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp khoảng 2.068,7 ha, sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian 2013-2017 và khảo sát thực địa năm 2017. Kết quả nghiên cứu chứng minh việc ứng dụng hiệu quả kiến thức bản địa giúp gia tăng thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm, tạo tiền đề khoa học vững chắc cho chiến lược phát triển nông thôn bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hai trục lý thuyết nền tảng: Lý thuyết Thích ứng với biến đổi khí hậu dựa vào cộng đồng và Lý thuyết Sinh thái nhân văn về tri thức bản địa. Khái niệm biến đổi khí hậu được tiếp cận theo khung chuẩn của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu và Tổ chức Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu, xác định đây là sự biến động trạng thái khí quyển do tác động tự nhiên và nhân sinh kéo dài qua nhiều thập kỷ. Khái niệm thích ứng được xác định là quá trình điều chỉnh hành vi, kỹ thuật và cơ cấu sản xuất nhằm giảm thiểu tính dễ bị tổn thương và tận dụng các cơ hội sinh kế.

Khái niệm kiến thức bản địa được định nghĩa theo chuẩn UNESCO là hệ thống tri thức, kỹ năng, tập quán canh tác được tích lũy, trao truyền qua nhiều thế hệ qua tương tác mật thiết với môi trường sống. Mô hình nghiên cứu thiết lập mối quan hệ tương tác giữa ba nhóm nhân tố chính: các cú sốc khí hậu cực đoan, các yếu tố nội tại của nông hộ (như trình độ học vấn, quy mô đất đai, nguồn lực tài chính) và việc lựa chọn các giải pháp thích ứng bản địa (như kỹ thuật dự báo thời tiết, cơ cấu giống cây trồng chống chịu, hệ thống dẫn nước mương phai và kỹ thuật xen canh).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp bao gồm chuỗi số liệu khí tượng thủy văn giai đoạn 2013-2017 của Trung tâm Khí tượng thủy văn huyện Ba Bể, các báo cáo kinh tế - xã hội thường niên của Ủy ban nhân dân huyện và 3 xã khảo sát, cùng các định hướng chính sách từ Quyết định số 270/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua cỡ mẫu khảo sát gồm 90 hộ gia đình nông dân tại 3 xã Khang Ninh (30 hộ), Nam Mẫu (30 hộ) và Quảng Khê (30 hộ). Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên tiêu chí phân loại hộ nghèo, cận nghèo và mức độ chịu tác động của thiên tai nhằm đảm bảo tính đại diện cao cho toàn vùng. Nghiên cứu thực hiện 3 cuộc thảo luận nhóm tập trung với sự tham gia của 10 đến 15 đại biểu mỗi cuộc gồm lãnh đạo địa phương, già làng và cán bộ khuyến nông. Đồng thời, kỹ thuật phỏng vấn sâu qua phương pháp quả cầu tuyết được áp dụng với các nghệ nhân am hiểu tri thức dân gian. Phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và đối chiếu hiệu quả kinh tế được lựa chọn vì tính trực quan, phản ánh chính xác sự khác biệt giữa các mô hình canh tác trong mốc thời gian khảo sát năm 2017.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, diễn biến thời tiết tại địa bàn nghiên cứu thể hiện sự bất thường rõ rệt. Lượng mưa trung bình năm biến động lớn từ 1.253 mm đến 2.038 mm, nhiệt độ trung bình năm là 21,1°C nhưng xuất hiện các mức nhiệt độ cực đoan với biên độ từ -2,0°C vào mùa đông đến 39,5°C vào mùa hè, kèm theo 80 đến 90 ngày sương mù mỗi năm.

Thứ hai, tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã làm suy giảm nghiêm trọng năng suất mùa vụ và gia tăng dịch bệnh. Tại xã Quảng Khê, dịch lùn sọc đen năm 2017 đã phá hủy 40,3 ha lúa vụ mùa. Số liệu thống kê từ 90 hộ điều tra cho thấy tỷ lệ hộ nghèo chiếm 23,3%, hộ cận nghèo chiếm 15,6% và hộ trên nghèo chiếm 61,1%, với trình độ học vấn trung bình của chủ hộ đạt lớp 6,91 và quy mô nhân khẩu bình quân 4,86 người/hộ.

Thứ ba, người dân đã vận dụng hiệu quả kho tàng tri thức bản địa để ứng phó. 100% các nhóm hộ đồng bào Tày, Dao, Mông đều sở hữu kinh nghiệm dự báo thời tiết thông qua quan sát hiện tượng tự nhiên như tập tính kiến làm tổ, chuồn chuồn bay, hướng mây tích tụ trên đỉnh Phja Bjoóc cao 1.578m.

Thứ tư, các mô hình canh tác bản địa mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội so với tập quán độc canh. Điển hình, mô hình gừng xen chuối tây, ngô xen khoai sọ trên đất dốc giúp tăng thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm, mang lại lợi nhuận ròng từ 4 đến 5 triệu đồng trên mỗi 1.000 m2 đất canh tác.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sự phụ thuộc lớn vào kiến thức bản địa là do điều kiện địa hình vùng cao hiểm trở, đất lâm nghiệp chiếm trên 80% diện tích tự nhiên, hệ thống dự báo khí tượng hiện đại chưa thể bao phủ chi tiết đến từng vi khí hậu thung lũng và sườn núi. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Nông Lâm nghiệp Miền núi năm 2013 và 2014, kết quả của luận văn hoàn toàn tương đồng khi chứng minh các giống cây trồng bản địa như đậu xanh mốc, đậu xanh tiêu, khoai tây chịu rét và lúa nương chịu hạn có khả năng chống chịu sâu bệnh tốt hơn nhiều so với các giống lai mới nhập nội.

Dữ liệu nghiên cứu khi biểu diễn qua biểu đồ cột so sánh hiệu quả sản xuất đã chỉ rõ sự chênh lệch rõ rệt về năng suất lúa và ngô giữa các chân ruộng có áp dụng hệ thống mương phai, guồng nước truyền thống so với các diện tích canh tác phụ thuộc hoàn toàn vào nước trời. Hơn nữa, việc sử dụng các chế phẩm thảo mộc tự nhiên để phòng trừ sâu hại giúp người dân tiết kiệm khoảng 40% chi phí mua thuốc bảo vệ thực vật hóa học. Điều này khẳng định tri thức bản địa không phải là tập quán lạc hậu mà là một công nghệ sinh thái thích ứng có chi phí thấp, đóng vai trò sống còn trong việc củng cố khả năng tự cường của cộng đồng dân tộc thiểu số.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đầu tư nâng cấp và kiên cố hóa hệ thống thủy lợi tiểu vùng. Ủy ban nhân dân huyện Ba Bể phối hợp với Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần triển khai dự án cải tạo các công trình dẫn nước mương phai, bắc máng và guồng nước truyền thống, hướng tới mục tiêu chủ động tưới tiêu cho ít nhất 85% trong tổng số 2.068,7 ha đất canh tác nông nghiệp của 3 xã Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê trong giai đoạn 2020-2023.

Thứ hai, quy hoạch chuyển đổi cơ cấu cây trồng và nhân rộng mô hình xen canh thích ứng. Trạm Khuyến nông huyện cùng Ủy ban nhân dân các xã cần hướng dẫn nông dân nhân rộng mô hình chuối xen gừng, ngô xen đậu đỗ trên 500 ha đất dốc, nhằm mục tiêu nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích thêm 20% đến 30%, hoàn thành mục tiêu quy hoạch trước năm 2025.

Thứ ba, phục tráng và bảo tồn nguồn gen giống cây trồng, vật nuôi bản địa. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bắc Kạn chủ trì phối hợp với các già làng, nghệ nhân nông dân thu thập, lưu giữ và phục tráng các giống lúa chịu hạn, giống ngô địa phương và giống đậu xanh chống chịu rét, phấn đấu bảo tồn 100% nguồn gen bản địa chủ lực và giảm 40% chi phí mua giống nhập ngoại của bà con trong lộ trình 2020-2024.

Thứ tư, thể chế hóa việc lồng ghép tri thức bản địa vào kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp cơ sở. Ủy ban nhân dân 3 xã cần tổ chức tối thiểu 15 lớp tập huấn chuyên đề cho cán bộ nông nghiệp và đại diện 90 thôn bản trong giai đoạn 2020-2022, kết hợp linh hoạt bản tin khí tượng thủy văn số với kinh nghiệm dự báo dân gian để phát thanh định kỳ trên hệ thống loa truyền thanh xã.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, các nhà quản lý và cán bộ hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn tại các tỉnh miền núi phía Bắc. Luận văn cung cấp căn cứ thực tiễn để xây dựng kế hoạch hành động thích ứng với biến đổi khí hậu theo Quyết định số 270/QĐ-BNN-KHCN, giúp tối ưu hóa việc phân bổ ngân sách vào các công trình thủy lợi và khuyến nông cơ sở.

Thứ hai, các nhà khoa học, giảng viên và sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông và Quản lý tài nguyên môi trường. Đề tài cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh về tri thức bản địa, phương pháp chọn mẫu phân tầng và bộ công cụ đánh giá nông thôn có sự tham gia để ứng dụng vào các nghiên cứu học thuật tiếp theo.

Thứ ba, các tổ chức phi chính phủ và cơ quan phát triển quốc tế hoạt động trong lĩnh vực giảm nghèo và biến đổi khí hậu. Tài liệu mang đến nguồn dẫn chứng thực chứng giá trị về mô hình thích ứng dựa vào cộng đồng tại vùng đệm Vườn Quốc gia Ba Bể, hỗ trợ thiết kế các can thiệp dự án đạt hiệu quả cao.

Thứ tư, ban quản trị các hợp tác xã nông nghiệp và bà con nông dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đây là cẩm nang thực hành chi tiết về kỹ thuật xen canh gừng - chuối, ngô - khoai và các biện pháp trừ sâu sinh học giúp nâng cao lợi nhuận thêm 4 đến 5 triệu đồng/1.000 m2.

Câu hỏi thường gặp

Nghiên cứu này được thực hiện trên quy mô mẫu khảo sát như thế nào và tại địa bàn nào? Đề tài khảo sát trực tiếp 90 hộ nông dân tại 3 xã Khang Ninh, Nam Mẫu và Quảng Khê thuộc huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn. Mẫu được chọn ngẫu nhiên phân tầng đại diện cho 23,3% hộ nghèo, 15,6% hộ cận nghèo và 61,1% hộ trên nghèo, kết hợp cùng 3 cuộc thảo luận nhóm chuyên sâu.

Biến đổi khí hậu gây ra những thiệt hại nông nghiệp cụ thể nào tại huyện Ba Bể? Biến đổi khí hậu gây ra các đợt rét hại với nhiệt độ hạ sâu xuống -2,0°C và hạn hán gay gắt lên tới 39,5°C. Đáng chú ý trong năm 2017, dịch bệnh lùn sọc đen bùng phát do thời tiết bất thường đã làm mất trắng 40,3 ha lúa tại xã Quảng Khê, làm giảm mạnh sản lượng lương thực địa phương.

Những mô hình canh tác bản địa nào chứng minh được hiệu quả kinh tế cao nhất? Các mô hình nông lâm kết hợp như gừng xen chuối tây trên đất dốc hoặc đậu xanh chịu hạn giúp nâng cao thu nhập của hộ gia đình thêm 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm so với độc canh. Ở quy mô nông hộ, mô hình mang lại lợi nhuận ròng từ 4 đến 5 triệu đồng trên mỗi 1.000 m2 đất sản xuất.

Đồng bào dân tộc thiểu số tại Ba Bể dự báo thời tiết bằng những dấu hiệu nào? Bà con các dân tộc Tày, Dao, Mông theo dõi tập tính làm tổ của kiến, sự xuất hiện của sương mù trên đỉnh núi Phja Bjoóc cao 1.578m, kết hợp hướng gió mùa để chủ động bố trí lịch gieo cấy lúa ngô và bảo vệ đàn đại gia súc 17.105 con của toàn huyện trước các đợt rét đậm.

Làm thế nào để kết hợp hiệu quả giữa kiến thức bản địa và khoa học kỹ thuật hiện đại? Giải pháp then chốt là sử dụng các giống cây trồng bản địa đã được phục tráng khoa học, kết hợp hệ thống tưới mương phai truyền thống với công nghệ dự báo thời tiết số. Cách tiếp cận này giúp giảm khoảng 40% chi phí vật tư nông nghiệp mà vẫn duy trì mức lương thực bình quân 609 kg/người/năm.

Kết luận

  • Biến đổi khí hậu đã tác động trực tiếp đến 2.068,7 ha đất nông nghiệp tại 3 xã Khang Ninh, Nam Mẫu, Quảng Khê với biên độ nhiệt khắc nghiệt từ -2,0°C đến 39,5°C.
  • Khảo sát 90 hộ nông dân khẳng định kiến thức bản địa đóng vai trò cốt lõi giúp đồng bào dân tộc thiểu số chủ động dự báo thời tiết và phòng ngừa dịch bệnh hại cây trồng.
  • Các mô hình xen canh bản địa như chuối tây xen gừng và ngô xen đậu đỗ chứng minh hiệu quả kinh tế vượt trội, giúp tăng thu nhập từ 20 đến 40 triệu đồng/ha/năm.
  • Hạn chế về trình độ học vấn với mức bình quân lớp 6,91 đòi hỏi các giải pháp can thiệp phải mang tính trực quan, dễ hiểu và phù hợp với văn hóa địa phương.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp về hoàn thiện thủy lợi, quy hoạch cây trồng, bảo tồn nguồn gen và thể chế hóa chính sách là định hướng trọng tâm cho giai đoạn 2020-2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về giá trị kinh tế và sinh thái của tri thức bản địa trong thích ứng biến đổi khí hậu tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số miền núi phía Bắc. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2021 đến 2023, các cơ quan chức năng cần nhanh chóng triển khai số hóa và chuẩn hóa bộ chỉ dẫn kỹ thuật bản địa này vào các chương trình khuyến nông quốc gia. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và tổ chức phát triển hãy ứng dụng ngay kết quả nghiên cứu này để xây dựng những mô hình nông nghiệp sinh thái tự cường, góp phần bảo vệ bền vững hệ sinh thái Hồ Ba Bể.