ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng chuyển hóa là thuật ngữ dùng để chỉ những người có nguy cơ c o mắc bệnh tim mạch và đái tháo đường với các đặc điểm là tình trạng béo bụng; rối loạn lipid máu như trigl cerid máu c o, HDL-c máu thấp, LDL- c cao, tạo nên mảng xơ vữa ở th nh động mạch; tăng huyết áp; tình trạng kháng insulin hoặc không dung nạp đường; tình trạng tiền đông máu; tình trạng tiền vi m… Tăng hu ết áp là bệnh lý thường gặp, đã ảnh hưởng lên khoảng một tỷ người trên thế giới. Cùng với sự phát triển đời sống xã hội, khi tuổi thọ con người c ng tăng cùng với sự th đổi các thói quen sinh hoạt, ăn uống tăng lên, thì tần suất tăng hu ết áp cũng tăng theo. Kết quả mới nhất điều tr tăng huyết áp toàn quốc năm 2015-2016, Nguyễn Lân Việt cho biết theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt N m tr n 5.454 người trưởng thành (≥25 tuổi) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc, kết quả cho thấ , c 52,8% người Việt có huyết áp bình thường (23,2 triệu người), c 47,3% người Việt Nam (20,8 triệu người) bị tăng hu ết áp. Đặc biệt, trong những người bị tăng hu ết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng hu ết áp; có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng hu ết áp không được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị tăng hu ết áp chư kiểm soát được [37].
Ở Việt Nam, khoảng 20% số người ở tuổi trưởng thành mắc hội chứng chuyển hóa, trong đ 5% gặp người có thể trọng bình thường, 22% người thừ cân, 60% người bị béo phì. Tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ mắc hội chứng chuyển hóa chiếm 18% [4]. Người tăng hu ết áp c ngu cơ mắc hội chứng chuyển hóa 34% và 39,96% gặp ở người cao tuổi [28]. Nghiên 2 cứu của Lê Quốc Tuấn, Trịnh Xuân Tráng trên 341 bệnh nhân tăng hu ết áp nguyên phát cho thấy tần suất mắc hội chứng chuyển hóa là 49,9% [36].
Nghiên cứu hội chứng chuyển hóa trên bệnh nhân tăng hu ết áp là vấn đề thời sự được nhiều tác giả quan tâm. Cho đến n đã c nhiều công trình trên thế giới và một vài nghiên cứu trong nước đề cập đến điều trị tăng hu ết áp ở bệnh nhân đồng thời có hội chứng chuyển hóa. Các thuốc chống tăng huyết áp lý tưởng phải kiểm soát giảm và duy trì huyết áp hiệu quả suốt 24 giờ với một liều hàng ngày. Phần lớn bệnh nhân tăng hu ết áp dùng thuốc điều trị muốn có ít tác dụng phụ v chi phí điều trị thấp.
Hiện nay có nhiều khuyến cáo dùng Telmisartan điều trị tăng hu ết áp ở bệnh nhân có hội chứng chuyển hóa đính kèm do Telmis rt n được dung nạp tốt ở bệnh nhân tăng huyết áp nhẹ đến trung bình [71]. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Nghiên cứu tình hình hội chứng chuyển hóa, yếu tố liên quan và kết quả kiểm soát huyết áp bằng Telmisartan ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ” với các mục tiêu cụ thể như s u: 1. Xác định tỷ lệ hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng hu ết áp nguyên phát tại Bệnh viện Đ kho Trung ương Cần Thơ năm 2018-2019. Tìm hiểu một số yếu tố liên quan với hội chứng chuyển hóa ở bệnh nhân tăng hu ết áp nguyên phát tại Bệnh viện Đ kho Trung ương Cần Thơ năm 2018-2019.
Đánh giá kết quả kiểm soát huyết áp bằng Telmisartan ở bệnh nhân tăng huyết áp nguyên phát có hội chứng chuyển hóa tại Bệnh viện Đ kho Trung ương Cần Thơ năm 2018-2019. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. KHÁI NIỆM CƠ BẢN VỀ HUYẾT ÁP ĐỘNG MẠCH VÀ TĂNG HUYẾT ÁP 1. Huyết áp động mạch Máu chả trong động mạch có một áp suất nhất định gọi là huyết áp.
Trong đ , máu trong lòng động mạch có một xu hướng áp lực đẩ th nh động mạch giãn r ; th nh động mạch lại có một sức ép ngược trở lại, sức đẩy của máu gọi là huyết áp, sức ép củ th nh động mạch gọi là thành áp. Hai lực này cân bằng nhau [9],[14]. Máu chả được trong động mạch là do hai yếu tố quyết định: - Sự chênh lệch áp suất giữ h i đầu của mạch, sự chênh lệch này tạo ra lực đẩy máu qua mạch máu. - Sức cản củ máu (R): ngăn cản sự lưu thông của máu.
Máu chảy trong động mạch. P1: áp suất đầu mạch P2: áp suất cuối mạch R: sức cản của máu Như vậy sự khác nhau về áp suất giữ h i đầu mạch máu quyết định sự lưu thông máu trong mạch máu chứ không phải là áp suất tuyệt đối của máu, 4 ví dụ áp suất máu là 100mmHg nhưng nếu không có sự chênh lệch áp giữa h i đầu củ động mạch thì máu cũng không chả được trong động mạch. Định nghĩ HA phụ thuộc v o lưu lượng tim và sức cản ngoại vi (R). Ở người bình thường H tương đối ổn định nhờ các cơ chế điều hòa bằng thần kinh và thể dịch, làm biến đổi ngược chiều giữ lưu lượng tim và sức cản ngoại vi.
THA xả r khi tăng lưu lượng tim hoặc tăng sức cản ngoại vi, hoặc tăng cả hai yếu tố tr n m các cơ chế điều hòa củ cơ thể không còn hiệu lực nữa [25], [75]. Theo của tổ chức Y tế thế giới, tăng hu ết áp khi huyết áp tâm thu ≥140mmHg v hoặc huyết áp tâm trương ≥90mmHg [34]. THA gây nhiều áp lực cho tim, có khả năng dẫn đến bệnh tim do tăng huyết áp, bệnh mạch vành. THA cũng l một yếu tố ngu cơ chính trong: t i biến mạch máu não, su tim, phình động mạch, bệnh thận mạn, và bệnh động mạch ngoại biên.
Phân loại tăng hu ết áp Phân loại THA theo JNC VII: Bảng 1. Phân loại THA theo JNC VII Phân loại HA ở ngƣời lớn Loại HA HATT (mmHg) HATTr (mmHg) Bình thường < 120 và < 80 Tiền THA 120-139 hoặc 80-89 TH gi i đoạn 1 140-159 hoặc 90-99 TH gi i đoạn 2 ≥160 hoặc ≥100 1. Cơ chế bệnh sinh của tăng huyết áp nguyên phát Những nghiên cứu gần đâ tr n thế giới cũng như trong nước đã l m sáng tỏ hơn một số cơ chế tham gia vào bệnh sinh của THA nguyên phát. 5 - Vai trò của natri: natri không phải là yếu tố gây THA trực tiếp, nhưng người ta thấy nếu ăn nhiều ion n tri thì H tăng, ngược lại người THA nếu ăn nhạt HA sẽ giảm.
Vai trò củ ion n tri c li n qu n đến cơ chế bệnh sinh của loại THA nguyên phát [19], [27]. - Vai trò của hệ thống thần kinh giao cảm: hầu hết các trường hợp THA nguyên phát (ác tính) ở người trẻ tuổi đều c tăng c techol min hu ết tương. Khi hệ thần kinh giao cảm tăng cường hoạt động sẽ gây ra các tác dụng: + Co các động mạch nhỏ và các tiểu động mạch n n l m tăng sức cản, làm THA và giảm lưu lượng máu đến mô. + Co các mạch máu lớn, đặc biệt l các tĩnh mạch, do đ dồn máu về tim, l m tăng thể tích tâm thu, tăng lưu lượng tim, dẫn tới THA.
+ Các sợi giao cảm đến tim l m tăng tần số tim, tăng lực co cơ tim n n làm THA. Tất cả các tác dụng trên dẫn đến kết quả l H tăng [19]. - Vai trò stress: stress có thể kích thích trực tiếp hệ thống thần kinh giao cảm và tuyến tủy thượng thận gây bài tiết c techol min l m tăng sức co bóp của tim, tăng nhịp tim dẫn tới THA. Nhiều tác giả cho rằng các stress tâm lý lặp đi lặp lại nhiều lần có thể l m tăng tỷ lệ mắc bệnh THA.
Tuy nhiên, vai trò stress tâm lý gây THA vẫn chư thật sáng tỏ, các tác động củ chúng dường như phụ thuộc vào sự tác động qua lại của ít ra là 3 yếu tố: nguồn gốc stress, nhận thức của mỗi cá thể và tính nhạy cảm tâm lý của mỗi cá thể [19]. Tỷ lệ tăng huyết áp nguyên phát trên thế giới và ở Việt Nam - Tỷ lệ THA nguyên phát ở một số nước trên thế giới: Tỷ lệ mắc THA ở các nước phát triển đều khá cao: ở Ý là 38%, Thụy Điển 38%, Anh 42%, Tây Ban Nha 47%, Phần L n 49%, Đức 55%, Thụy Sỹ 32%. Ở Mỹ do chính phủ nước này có một chương trình quốc gia phòng chống THA nên hiện đã khống chế được ở mức 28%, mặc dù còn khá cao. Các nước châu Á cũng như các nước trong khu vực, tỷ lệ THA có thấp hơn ở 6 châu Âu nhưng cũng ở mức cao: Ấn Độ là 36%, Nepal 20%, Singapore 26%, Trung Quốc 27%, Malaysia 24%, Pakistan 23%, Hồng Kông 29%, Srilanka 20%, Hàn Quốc 34%, Nhật Bản 45% [84].
- Ở Việt Nam: Theo Viện Tim mạch quốc gia, trong các bệnh tim mạch thì THA là loại bệnh lý phổ biến và tỷ lệ n cũng gi tăng rất nh nh. Năm 1990 chỉ có 11% người bị tăng hu ết áp, thì năm 2000 tỷ lệ n l 16%, năm 2008 l 25% v năm 2015 l 47,3%. Tức là cứ khoảng 2 người từ 25 tuổi trở lên thì có 1 người bị tăng hu ết áp. Năm 2016, Nguyễn Lân Việt cho biết theo thống kê năm 2015 của Hội Tim mạch học Việt N m tr n 5.454 người trưởng thành (≥25 tuổi) trong quần thể 44 triệu người tại 8 tỉnh thành trên toàn quốc, kết quả cho thấ , c 52,8% người Việt có huyết áp bình thường (23,2 triệu người), c 47,3% người Việt Nam (20,8 triệu người) bị tăng hu ết áp.
Đặc biệt, trong những người bị tăng hu ết áp, có 39,1% (8,1 triệu người) không được phát hiện bị tăng hu ết áp; có 7,2% (0,9 triệu người) bị tăng hu ết áp không được điều trị; có 69,0% (8,1% triệu người) bị tăng hu ết áp chư kiểm soát được [37]. CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ CỦA TĂNG HUYẾT ÁP Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy có một số yếu tố có liên quan đến THA là thừ cân béo phì, ăn mặn, ít hoạt động thể lực, ĐTĐ, stress… 1. Béo phì Năm 1986, nh m chu n vi n về nhu cầu năng lượng của Liên Hợp Quốc đã đề nghị sử dụng BMI để đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người trưởng thành. Béo phì được chia thành 3 mức độ: độ 1, độ 2, độ 3 [57].
Tăng đƣờng máu Bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) hay xảy ra cùng với bệnh TH .