Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ" do nghiên cứu sinh Huỳnh Công Duẩn thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh (năm 2022), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế và TS Mai Mỹ Duyên.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Kịch nói theo chân quân đội Pháp du nhập vào Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sớm hơn các địa phương khác trên cả nước. Trải qua hơn một thế kỷ hình thành và phát triển, loại hình này đã xác lập vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân đô thị phía Nam, đặc biệt là giai đoạn bùng nổ các sân khấu kịch xã hội hóa từ năm 1997. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hoạt động kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh đối mặt với nhiều khó khăn và bất cập: sự sụt giảm lượng khán giả, nguy cơ phai nhạt bản sắc kịch nghệ địa phương, sự thiếu hụt đội ngũ lý luận phê bình, cơ sở vật chất xuống cấp và chất lượng nghệ thuật không đồng đều.

Về mặt học thuật, các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận kịch nói dưới góc độ lịch sử sân khấu, nghệ thuật học, văn học kịch bản hoặc quản lý văn hóa đơn lẻ. Khoảng trống nghiên cứu then chốt mà tác giả xác định là chưa có một công trình chuyên sâu nào nghiên cứu toàn diện kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh dưới lăng kính Văn hóa học, cụ thể là nhận diện và phân tích sự biểu hiện của các đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong nghệ thuật kịch nói.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

  • Mục tiêu nghiên cứu: Nhận diện và làm rõ những đặc điểm cơ bản của văn hóa Nam Bộ (Tính sông nước, Tính dung hợp, Tính linh hoạt) thể hiện trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh thông qua đề tài, nội dung, mỹ thuật sân khấu, phương pháp dàn dựng và ngôn ngữ thoại kịch; đồng thời khẳng định giá trị, vai trò của kịch nói trong tiến trình văn hóa - nghệ thuật Nam Bộ và đề xuất các khuyến nghị cho sự phát triển bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận liên quan đến văn hóa Nam Bộ và nghệ thuật kịch nói.
    2. Làm rõ tiến trình hình thành, phát triển của kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh qua các giai đoạn lịch sử.
    3. Trình bày và phân tích các đặc trưng văn hóa Nam Bộ biểu hiện qua các yếu tố cấu thành tác phẩm kịch và các chủ thể sân khấu (sáng tạo, quản lý, thưởng thức).
    4. Đánh giá tác động tích cực và hạn chế của văn hóa Nam Bộ đối với kịch nói; dự báo xu thế và đề xuất các giải pháp phát triển.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành và phát triển trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ như thế nào?
  2. Đặc điểm văn hóa Nam Bộ biểu hiện như thế nào trong kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh?
  3. Những tác động của văn hóa Nam Bộ đối với kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh là gì?
  4. Cần phải làm gì để kịch nói giữ được vị thế quan trọng trong sự phát triển kinh tế - văn hóa hiện nay của Thành phố Hồ Chí Minh?

Hệ thống 4 giả thuyết nghiên cứu tương ứng:

  1. Kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của quá trình lịch sử hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ, thể hiện sự giao lưu và tiếp biến văn hóa nhằm khẳng định bản sắc văn hóa Việt.
  2. Kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh là kết quả của sự dung hợp văn hóa, phản ánh hiện thực cuộc sống, khắc họa các nét đặc thù về tự nhiên, xã hội và tính cách con người Nam Bộ trong các thành tố vở diễn.
  3. Văn hóa Nam Bộ có tác động nhiều mặt (cả tích cực lẫn hạn chế) đối với sự phát triển của kịch nói tại đô thị này.
  4. Một hệ thống chính sách hợp lý cùng định hướng phát triển khoa học, bền vững là điều kiện cần thiết để kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh phát huy vai trò trong bối cảnh đương đại.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh mang đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong quá trình hình thành và phát triển nghệ thuật. Khảo sát cụ thể trên hệ thống sân khấu công lập (Nhà hát Kịch Thành phố) và các sân khấu kịch xã hội hóa (Nhà hát Kịch Sân khấu Nhỏ 5B, Sân khấu kịch Hoàng Thái Thanh, Hồng Vân, Trịnh Kim Chi, Idecaf, Minh Nhí...); các sản phẩm nghệ thuật (kịch bản, vở diễn, thiết kế mỹ thuật, hóa trang, phục trang, âm nhạc, đạo cụ); cùng các chủ thể sân khấu (nhà quản lý, nhà nghiên cứu, nghệ sĩ, nhà báo và khán giả).
  • Phạm vi không gian: Tập trung tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, có sự đối sánh mở rộng với kịch nói miền Bắc và đặt trong không gian văn hóa vùng Nam Bộ (gồm Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ).
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình lịch sử từ đầu thế kỷ XX đến năm 2020, trọng tâm đi sâu vào giai đoạn từ năm 1997 (thời điểm ban hành chính sách xã hội hóa hoạt động văn hóa) đến năm 2020.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án tổng thuật có hệ thống 4 nhóm công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

Nhóm công trình Các tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung học thuật đã đạt được
Lý luận sân khấu và kịch nói thế giới & Việt Nam Constantin Stanislavski (1964), Colin Mackerras (1984), Anhikst (2002 - Tất Thắng dịch), Simon Shepherd & Mick Wallis (2004), Khải Thư Nguyễn (2010), Đình Quang (1978, 2003, 2005), Phan Kế Hoành & Huỳnh Lý (1978), Lưu Quang Vũ - Vương Trí Nhàn - Xuân Quỳnh (1979), Viện Sân khấu (1987, 1995), Trần Minh Ngọc (1993), Phùng Huy Bính (2004), Đỗ Hương (2005), Hoàng Sự (2005), Phan Trọng Thưởng (2009), Tất Thắng (2009), Phạm Thị Hà (2014), Cao Thị Xuân Ngọc (2016). Xác lập hệ thống lý luận về kịch nghệ phương Tây (trường phái hiện thực tâm lý của Stanislavski); lịch sử du nhập và bản địa hóa kịch nói ở Việt Nam; mỹ thuật sân khấu, kỹ thuật đạo diễn và mối quan hệ giữa kịch bản văn học với trình diễn sân khấu.
Nghiên cứu kịch nói tại Sài Gòn - TP.HCM Trần Văn Khải (1970), Trần Văn Giàu & Trần Bạch Đằng (1998), Trần Trọng Đăng Đàn (1998, 2006, 2011), Nguyễn Thị Minh Thái (1999), Lê Thị Thanh Thủy (2003), Nguyễn Văn Thành (2008), Nguyễn Thị Kim Liên (2015), Lưu Trung Thủy (2017), Trần Yến Chi (2018), Cao Tấn Lộc (2019); Kỷ yếu các hội thảo khoa học (2012, 2016, 2019). Ghi nhận hoạt động của các ban kịch Sài Gòn trước 1975; sự ra đời và chuyển biến của mô hình Sân khấu nhỏ 5B, các đơn vị kịch xã hội hóa; phong cách kịch bản của Lê Duy Hạnh, Ngọc Linh; phân tích kịch trường dưới góc độ công nghiệp văn hóa và quản lý nghệ thuật.
Hồi ký của các nghệ sĩ sân khấu phía Nam NSND Bảy Nam (Trôi theo dòng đời, 2009), NSƯT Thành Lộc & Nguyễn Thị Minh Ngọc (Hãy cứ cho đi từ cõi đời này, 2015), Kim Cương (Sống cho người - sống cho mình, 2016). Cung cấp tư liệu thực chứng về đời sống làm nghề, kinh nghiệm diễn xuất, tổ chức sân khấu tư nhân và hình tượng người mẹ Nam Bộ qua nhiều thời kỳ lịch sử.
Nghiên cứu văn hóa Nam Bộ & TP.HCM Huỳnh Lứa (1987), Sơn Nam (1997, 2006), Nhiều tác giả (Nam Bộ Xưa và Nay, 2007), Trần Ngọc Thêm (2008, 2016, 2017), Trần Thuận (2014), Phan Huy Lê (2017), Vương Hồng Sển (2004), Lý Tùng Hiếu (2009, 2019), Ngô Đức Thịnh (2004), Lê Văn Toan (2016). Phân tích quá trình khai phá vùng đất, cấu trúc địa văn hóa - kinh tế của Sài Gòn; hệ thống hóa các đặc trưng tính cách con người Nam Bộ (tính sông nước, bao dung, năng động, trọng nghĩa, thiết thực, mở thoáng).

Khoảng trống nghiên cứu được lựa chọn: Các nghiên cứu trước phần lớn xem xét kịch nói dưới dạng văn bản văn học thuần túy hoặc nhìn từ góc độ sân khấu học, kinh tế biểu diễn mà chưa đặt vở diễn tổng thể trong mối tương quan hữu cơ với các đặc trưng văn hóa vùng Nam Bộ. Luận án chọn điểm tiếp cận văn hóa học liên ngành để giải quyết toàn diện mối quan hệ giữa môi trường văn hóa Nam Bộ và diện mạo kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

  1. Lý thuyết Vùng văn hóa (Cultural Area Theory): Khởi xướng bởi F. Boas, O.T. Mason, Clark Wissler, A.L. Kroeber và được phát triển ở Việt Nam bởi Ngô Đức Thịnh. Lý thuyết này được vận dụng để xác định Nam Bộ là một vùng văn hóa đặc thù với trung tâm là Thành phố Hồ Chí Minh. Trung tâm này đóng vai trò hạt nhân tiếp nhận, chuyển hóa các yếu tố kịch nghệ phương Tây, sau đó bản địa hóa và lan tỏa các giá trị văn hóa nghệ thuật ra toàn vùng.
  2. Lý thuyết Lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory): Phát triển từ xã hội học và kinh tế học (G. Homans, Peter Blau, James Coleman, J. Elster, G. Simmel). Luận án sử dụng lý thuyết này để lý giải hành vi và quyết định của các chủ thể sân khấu: khán giả lựa chọn vở diễn theo thị hiếu và khả năng tài chính; các nghệ sĩ và "bầu sô" sân khấu tư nhân tối ưu hóa phương thức tổ chức, dàn dựng kịch mục nhằm cân bằng giữa giá trị nghệ thuật và doanh thu phòng vé trong cơ chế thị trường.
  3. Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory): Dựa trên các nghiên cứu của W.I. Thomas, F.W. Znaniecki, John W. Berry (mô hình 4 chiến lược: đồng hóa, chia tách, hòa nhập, cô lập) cùng quan điểm của các học giả Việt Nam như Phạm Đức Dương, Lý Tùng Hiếu. Luận án chỉ ra rằng kịch nói (yếu tố ngoại sinh từ phương Tây) khi vào Nam Bộ đã được người Việt tiếp nhận qua chiến lược hòa nhập và thích nghi sáng tạo, dung hợp với các yếu tố nội sinh (văn hóa dân gian, Hát bội, Cải lương) để định hình phong cách kịch bản sắc Nam Bộ.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành giữa Văn hóa học với Sử học, Dân tộc học, Xã hội học và Nghệ thuật học thông qua các thao tác kỹ thuật:

  • Tổng hợp và phân tích: Xử lý hệ thống tư liệu lịch sử, văn bản kịch bản, các bài phê bình và số liệu thống kê về khán giả kịch nói.
  • So sánh, đối chiếu: So sánh kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh với kịch nói miền Bắc; đối sánh thị hiếu công chúng theo các nhóm tuổi và nghề nghiệp khác nhau.
  • Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp thâm nhập không gian sinh tồn của kịch nghệ với các vai trò thực tế (đạo diễn, diễn viên, tác giả, người tổ chức sản xuất và khán giả) tại các sàn tập và đêm diễn.
  • Phỏng vấn sâu: Thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp (thời lượng 120-240 phút/cuộc, có trường hợp phỏng vấn lặp lại 2 lần) với các nghệ sĩ gạo cội, nhà quản lý nhà hát công lập và tư nhân, nhà giáo nguyên lãnh đạo trường nghệ thuật, nhà báo chuyên trách và khán giả trung thành.
  • Nghiên cứu tư liệu thứ cấp và khảo sát định lượng: Thu thập và xử lý các số liệu từ phiếu khảo sát khán giả kịch, biểu đồ phân bố người xem và báo cáo tổng kết hoạt động nghệ thuật của Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh các năm 2017, 2018, 2019.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN (43 trang)

Chương 1 hệ thống hóa toàn bộ lịch sử nghiên cứu liên quan đến kịch nói và văn hóa Nam Bộ; định nghĩa các khái niệm công cụ: Kịch, Kịch nói, Vùng văn hóa Nam Bộ, Đặc điểm văn hóa Nam Bộ. Tác giả phân tích cấu trúc 3 lý thuyết nền tảng (vùng văn hóa, lựa chọn duy lý, tiếp biến văn hóa).

Về cơ sở thực tiễn, chương làm rõ các đặc trưng của Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Vị trí địa văn hóa - chính trị - kinh tế: Đô thị sông nước hình thành trên 300 năm, đầu mối giao thương quốc tế với hệ thống cảng biển, sông ngòi thuận lợi cho việc du nhập và lan tỏa các luồng văn minh.
  • Cấu trúc xã hội và cư dân đô thị: Sự cộng cư lịch sử giữa người Việt (chủ thể), người Hoa, người Khmer, người Chăm; hình thành tầng lớp thị dân năng động, cởi mở, chuộng cái mới và có nhu cầu hưởng thụ giải trí cao.
  • Kinh tế thị trường và sự hình thành thị trường công nghiệp giải trí: Sự phát triển sớm của kinh tế hàng hóa tạo nền móng cho hoạt động biểu diễn dịch vụ và mô hình sân khấu tư nhân tự chủ tài chính.

CHƯƠNG 2: DIỄN TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (32 trang)

Chương 2 phục dựng tiến trình lịch sử kịch nói tại Thành phố qua 2 giai đoạn lớn và các phân kỳ cụ thể:

  • Giai đoạn trước 1975: Từ khi kịch phương Tây vào Sài Gòn đến năm 1954 chủ yếu phục vụ người Pháp và tầng lớp trí thức Tây học, sau đó thâm nhập vào các ban văn nghệ, diễn ngắn xen kẽ cải lương, ca nhạc. Từ 1954 đến 1975, xuất hiện các ban thoại kịch độc lập trên sân khấu và truyền hình như ban kịch Dân Nam, Tân Dân Nam, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Bích Sơn, Vũ Huân... hình thành phong cách kịch tâm lý xã hội Nam Bộ.
  • Giai đoạn sau 1975 đến 2020:
    • 1975-1985: Sự hội tụ của ba lực lượng nghệ sĩ (nghệ sĩ tại chỗ ở Sài Gòn, nghệ sĩ từ chiến khu trở về, nghệ sĩ chi viện từ miền Bắc) tạo nên hoạt động biểu diễn sôi nổi của Đoàn kịch nói Cửu Long Giang, Đoàn kịch nói Kim Cương. Kịch giai đoạn này mang đậm tính chính trị, giáo dục và phản ánh hiện thực xây dựng xã hội mới.
    • 1986-1996: Bước vào thời kỳ Đổi mới, sự ra đời của Câu lạc bộ Sân khấu Thể nghiệm 5B Võ Văn Tần (năm 1984, tiền thân Nhà hát Kịch Sân khấu Nhỏ 5B) tạo ra phương thức dàn dựng kịch không gian nhỏ, cự ly gần, nhấn mạnh tính thể nghiệm và đối thoại trực diện.
    • 1997-2020: Khi chính sách xã hội hóa được ban hành năm 1997, hàng loạt sân khấu tư nhân ra đời (Idecaf, Kịch Hồng Vân, Hoàng Thái Thanh, Thế Giới Trẻ...). Kịch trường Thành phố Hồ Chí Minh phân hóa thành nhiều phân khúc: kịch tâm lý xã hội chiều sâu, kịch thiếu nhi (Ngày xửa ngày xưa), kịch kinh dị, kịch hài sinh hoạt. Cuối giai đoạn này, kịch nói đối mặt với sự sụt giảm người xem và thiếu hụt kịch bản đỉnh cao.

CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA NAM BỘ THỂ HIỆN TRONG KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (50 trang)

Chương 3 là trọng tâm của luận án, chứng minh 3 đặc điểm văn hóa Nam Bộ chi phối sâu sắc nghệ thuật kịch nói:

1. Tính sông nước

  • Thiết kế mỹ thuật sân khấu: Không gian bối cảnh thường xuyên tái hiện cảnh quan địa lý tự nhiên Nam Bộ: sông rạch, bến đò, xuồng ba lá, cầu khỉ, nhà sàn ven kênh, hàng dừa nước, mưa dầm phương Nam (thể hiện qua các vở diễn tại Sân khấu Hoàng Thái Thanh, Nhà hát 5B, Idecaf).
  • Ngôn ngữ kịch: Thoại kịch sử dụng mật độ cao hệ thống từ vựng gắn liền với môi trường sông nước, chèo ghe, con nước lớn - nước ròng, phù sa, miệt vườn.

2. Tính dung hợp

  • Nguồn gốc và lực lượng sáng tạo: Kịch nói Sài Gòn tiếp thu hình thức kịch phương Tây nhưng được xây dựng bởi đội ngũ nghệ sĩ đa dạng vùng miền (Bắc - Trung - Nam) và đa dân tộc (Kinh, Hoa, Khmer).
  • Đề tài và nội dung: Dung nạp hài hòa giữa tính thời sự xã hội phương Tây và triết lý sống nhân nghĩa, bao dung của phương Đông; kết hợp câu chuyện dân gian với các vấn đề nhức nhối của đô thị hiện đại.
  • Ứng dụng kịch hát truyền thống và âm nhạc dân gian: Lồng ghép các làn điệu dân ca Nam Bộ, lý, hò, đờn ca tài tử và vũ đạo Hát bội, vọng cổ Cải lương vào cấu trúc kịch nói một cách tự nhiên.
  • Sử dụng khẩu ngữ, phương ngữ: Lời thoại kịch bản và diễn xuất khai thác triệt để hệ thống phương ngữ Nam Bộ, từ ngữ xưng hô thân mật (tía, má, chế, thím, mình, tui, bậu), lối nói ví von, bộc trực, không hoa mỹ.

3. Tính linh hoạt

  • Chủ thể sân khấu: Mô hình "ông bầu", "bà bầu" sân khấu tư nhân linh hoạt xoay xở mặt bằng, huy động vốn, ứng biến với cơ chế thị trường; nghệ sĩ đa năng đảm nhiệm đồng thời nhiều vai trò (vừa viết kịch bản, vừa đạo diễn, diễn xuất và quản lý sản xuất).
  • Đề tài và thể loại: Biên độ thể loại phong phú, chuyển biến nhanh nhạy theo thị hiếu khán giả: từ bi kịch trữ tình, chính kịch thế sự, hài kịch châm biếm đến kịch lịch sử, kịch kinh dị, kịch thiếu nhi.
  • Phong cách nghệ thuật: Lối diễn xuất phóng khoáng, tự nhiên, thiên về tâm lý đời thường, hạn chế sự "lên gân" hay ước lệ cứng nhắc; sự tương tác trực tiếp, biến hóa linh hoạt giữa diễn viên và khán giả ngay trong không gian sàn diễn.

CHƯƠNG 4: PHÁT TRIỂN KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY (32 trang)

Chương 4 đánh giá toàn diện các yếu tố tác động và định hướng tương lai của kịch trường Thành phố:

  • Chiều hướng tác động:
    • Thuận lợi: Cơ chế xã hội hóa khơi dậy tiềm năng sáng tạo của khối tư nhân; tầng lớp khán giả trẻ có nhu cầu giải trí cao; truyền thống văn hóa Nam Bộ cởi mở, dễ dung nạp cái mới; sự phát triển của công nghệ truyền thông và hạ tầng đô thị.
    • Bất lợi: Áp lực doanh thu thương mại dẫn đến xu hướng "hài nhảm", lạm dụng yếu tố kinh dị, đồng tính giật gân; sự cạnh tranh gay gắt từ các phương tiện truyền thông số, gameshow truyền hình; thiếu rạp hát đạt chuẩn chuyên nghiệp (phần lớn các sân khấu phải thuê lại mặt bằng ngắn hạn); khủng hoảng kịch bản chất lượng cao và thiếu hụt lực lượng kế thừa được đào tạo bài bản.
  • Dự báo xu hướng phát triển: Sân khấu kịch sẽ tiếp tục phân hóa mạnh về phong cách; mô hình nhà hát tư nhân tinh gọn, kịch thể nghiệm và kịch dành cho thiếu nhi tiếp tục giữ vai trò chủ đạo nếu biết ứng dụng phương thức tiếp thị hiện đại.
  • Hệ thống khuyến nghị:
    1. Khâu sáng tạo nghệ thuật: Khuyến khích sáng tác kịch bản gắn liền với hơi thở cuộc sống đương đại; nâng cao trình độ đạo diễn, mỹ thuật sân khấu, kết hợp công nghệ âm thanh ánh sáng hiện đại nhưng giữ vững cốt cách văn hóa truyền thống Nam Bộ.
    2. Công tác đào tạo và lý luận phê bình: Đổi mới chương trình đào tạo diễn viên, đạo diễn tại các trường nghệ thuật theo hệ thống Stanislavski kết hợp thực hành sân khấu bản địa; củng cố đội ngũ lý luận phê bình định hướng thẩm mỹ.
    3. Chính sách quản lý nhà nước: Hoàn thiện hành lang pháp lý hỗ trợ sân khấu xã hội hóa (hỗ trợ thuế, hỗ trợ giá thuê mặt bằng, quỹ tài trợ tác phẩm đỉnh cao); đầu tư xây dựng thiết chế nhà hát kịch công lập đạt chuẩn quốc tế để thực hiện nhiệm vụ chính trị - nghệ thuật tiêu biểu.
    4. Công tác phát triển khán giả: Đưa kịch nói học đường vào các trường phổ thông và đại học; mở rộng các hình thức truyền thông số để thu hút công chúng trẻ.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Văn hóa học nhận diện, hệ thống hóa và phân tích một cách có cơ sở khoa học các đặc điểm văn hóa Nam Bộ (Tính sông nước, Tính dung hợp, Tính linh hoạt) thể hiện trong nghệ thuật kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Vận dụng thành công tổ hợp ba khung lý thuyết: Vùng văn hóa, Lựa chọn duy lý và Tiếp biến văn hóa để lý giải nguồn gốc, diện mạo nghệ thuật và phương thức vận hành của kịch trường đô thị trong bối cảnh kinh tế thị trường.
  • Chỉ ra quy luật vận động, biến đổi của kịch nghệ phương Tây khi du nhập và thích nghi với môi trường địa văn hóa Nam Bộ.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  • Phục dựng bức tranh tổng thể về diễn trình lịch sử kịch nói tại Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh từ đầu thế kỷ XX đến năm 2020, làm rõ vai trò của các ban kịch trước 1975, Sân khấu nhỏ 5B và phong trào sân khấu kịch xã hội hóa.
  • Cung cấp nguồn cứ liệu thực tế thông qua hệ thống 14 biên bản phỏng vấn sâu với các nghệ sĩ gạo cội, nhà giáo, nhà quản lý cùng số liệu khảo sát khán giả và báo cáo ngành văn hóa.
  • Đề xuất hệ thống các khuyến nghị có tính khả thi đối với các cơ quan quản lý văn hóa (UBND Thành phố, Sở Văn hóa và Thể thao), các nhà hát và cơ sở đào tạo nhằm xây dựng chính sách phát triển bền vững cho kịch nói trong tiến trình công nghiệp văn hóa.
  • Đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học phục vụ nghiên cứu, giảng dạy các môn Văn hóa học, Nghệ thuật học, Sân khấu học tại các trường đại học và cao đẳng nghệ thuật.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án:
    • Phạm vi thời gian nghiên cứu giới hạn khảo sát thực tế đến năm 2020, chưa bao quát đầy đủ những biến động sâu sắc của đời sống kịch trường Thành phố Hồ Chí Minh trong và sau giai đoạn đại dịch Covid-19.
    • Việc tiếp cận nguồn kịch bản và băng hình tư liệu của các ban kịch Sài Gòn giai đoạn trước 1975 còn gặp khó khăn do tính trạng thất lạc tài liệu lịch sử, do đó việc phân tích kịch mục thời kỳ này chủ yếu dựa trên các tài liệu hồi ký và khảo cứu thứ cấp.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hậu Covid-19 và bối cảnh chuyển đổi số của công nghiệp văn hóa biểu diễn.
    • Nghiên cứu so sánh chuyên sâu về ngôn ngữ đối thoại kịch nói giữa hai trung tâm kịch nghệ lớn: Hà Nội (đại diện văn hóa Bắc Bộ) và Thành phố Hồ Chí Minh (đại diện văn hóa Nam Bộ).
    • Khảo sát kịch bản văn học chuyển thể từ các tác phẩm văn xuôi Nam Bộ lên sàn diễn kịch nói.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn để Sở Văn hóa và Thể thao Thành phố Hồ Chí Minh, Hội Sân khấu xây dựng các cơ chế hỗ trợ tài chính, quy hoạch rạp biểu diễn, hoàn thiện chính sách xã hội hóa văn hóa và phát triển công nghiệp biểu diễn.
  • Giảng viên, nghiên cứu sinh, sinh viên: Sử dụng làm tài liệu giảng dạy và học tập trong các chuyên ngành Văn hóa học, Nghệ thuật học, Quản lý văn hóa, Đạo diễn và Diễn viên kịch nói tại Đại học Văn hóa TP.HCM, Trường Đại học Sân khấu - Điện ảnh TP.HCM, Đại học Trà Vinh...
  • Đạo diễn, tác giả, nghệ sĩ và các nhà hát: Tham khảo các luận điểm về tính dung hợp và linh hoạt để định hướng phong cách dàn dựng, khai thác chất liệu văn hóa dân gian Nam Bộ, xử lý ngôn ngữ đài từ và thiết kế không gian sân khấu thu hút công chúng hiện đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định những đặc điểm văn hóa Nam Bộ cơ bản nào được thể hiện trong kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh?

Tác giả xác định và chứng minh 3 đặc điểm cốt lõi của văn hóa Nam Bộ biểu hiện trong kịch nói:

  • Tính sông nước: Thể hiện qua mỹ thuật sân khấu (tái hiện bến sông, cầu khỉ, xuồng ba lá, nhà sàn ven rạch) và ngôn ngữ kịch đậm chất phù sa miệt vườn.
  • Tính dung hợp: Thể hiện qua nguồn gốc lực lượng nghệ sĩ đa vùng miền, sự kết hợp giữa kịch phương Tây với kịch hát truyền thống (Hát bội, Cải lương, đờn ca tài tử) và sự tiếp biến các ngôn ngữ, phong tục của các dân tộc Kinh, Hoa, Khmer.
  • Tính linh hoạt: Thể hiện qua phương thức tổ chức sân khấu tự chủ của các ông/bà bầu tư nhân, sự thích ứng đề tài nhanh nhạy theo thị hiếu và lối diễn xuất tâm lý tự nhiên, mộc mạc.

2. Tác giả sử dụng các lý thuyết khoa học nào để phân tích kịch nói dưới góc độ Văn hóa học?

Luận án vận dụng 3 khung lý thuyết chính:

  • Lý thuyết Vùng văn hóa (F. Boas, C. Wissler, Ngô Đức Thịnh): Xem Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm tiếp nhận, chuyển hóa và lan tỏa kịch nghệ cho toàn vùng Nam Bộ.
  • Lý thuyết Lựa chọn duy lý (G. Homans, Peter Blau): Phân tích hành vi lựa chọn vở diễn của khán giả và chiến lược tổ chức kịch mục của các sân khấu nhằm tối ưu hóa lợi ích nghệ thuật và kinh tế.
  • Lý thuyết Tiếp biến văn hóa (W.I. Thomas, F.W. Znaniecki, J.W. Berry, Phạm Đức Dương): Lý giải quá trình "Việt hóa" và "Nam Bộ hóa" loại hình kịch nói phương Tây.

3. Phương pháp phỏng vấn sâu trong luận án được triển khai như thế nào?

Tác giả đã thực hiện 14 cuộc phỏng vấn sâu trực tiếp. Mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài trung bình từ 120 đến 240 phút (một số trường hợp phỏng vấn lặp lại 2 lần). Khách thể phỏng vấn gồm 5 nhóm: nghệ sĩ gạo cội (tác giả, đạo diễn, diễn viên); nhà báo chuyên trách theo dõi sân khấu; nhà quản lý các sân khấu công lập và xã hội hóa; nhà giáo nguyên là lãnh đạo các cơ sở đào tạo nghệ thuật tại Thành phố; và nhóm khán giả xem kịch trung thành.

4. Luận án phân chia tiến trình phát triển của kịch nói tại Thành phố Hồ Chí Minh qua những mốc lịch sử nào?

Tiến trình kịch nói được chia thành 2 giai đoạn lớn với các mốc cụ thể:

  • Trước năm 1975: Phân kỳ từ khi kịch nói du nhập đến 1954; và phân kỳ từ 1954 đến 1975 (hình thành các ban thoại kịch Sài Gòn như Dân Nam, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng...).
  • Từ sau năm 1975 đến 2020: Phân kỳ 1975-1985 (hội tụ nghệ sĩ 3 miền, kịch chính trị - thời sự); phân kỳ 1986-1996 (đổi mới, mô hình Sân khấu nhỏ 5B); và phân kỳ 1997-2020 (chính sách xã hội hóa, bùng nổ sân khấu tư nhân và đối mặt với khủng hoảng thị trường).

5. Những nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm của kịch nói Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn gần đây là gì?

Theo khảo sát của luận án, sự suy giảm xuất phát từ các nguyên nhân: áp lực thương mại hóa dẫn đến sự xuất hiện của các vở diễn lạm dụng hài nhảm, kinh dị giật gân làm phai nhạt chất lượng nghệ thuật; sự thiếu thốn nghiêm trọng về cơ sở vật chất và mặt bằng rạp diễn đạt chuẩn; sự cạnh tranh từ các nền tảng giải trí trực tuyến; cùng với sự khủng hoảng thiếu kịch bản chất lượng cao và đội ngũ tác giả, đạo diễn kế thừa.


Kết luận

Luận án "Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh nhìn từ đặc điểm văn hóa Nam Bộ" của nghiên cứu sinh Huỳnh Công Duẩn là công trình nghiên cứu hệ thống về kịch trường phương Nam dưới lăng kính Văn hóa học. Thông qua việc vận dụng các lý thuyết vùng văn hóa, lựa chọn duy lý và tiếp biến văn hóa, tác giả đã làm sáng tỏ quá trình bản địa hóa kịch nghệ phương Tây thành một loại hình nghệ thuật thấm đượm tính sông nước, tính dung hợp và tính linh hoạt của con người Nam Bộ. Công trình không chỉ khôi phục diện mạo lịch sử kịch nói Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh qua hơn một thế kỷ mà còn cung cấp những cơ sở khoa học và giải pháp thực tiễn quan trọng nhằm định hướng phát triển bền vững nghệ thuật kịch nói trong đời sống đô thị hiện đại.