Luận án tiến sĩ về kịch nói ở TP.HCM và đặc điểm văn hóa Nam Bộ

Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu ngành văn hóa học kịch nói ở thành phố hồ chí minh nhìn từ đặc điểm văn hóa nam bộ, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất

Trường đại học

Trường Đại học Trà Vinh

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

357
1
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

0.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu

0.6. Đóng góp mới của luận án

0.7. Bố cục luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Nghiên cứu về nghệ thuật sân khấu và kịch nói

1.1.2. Nghiên cứu về kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

1.1.3. Hồi ký của những nghệ sĩ hoạt động kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh

1.1.4. Nghiên cứu về văn hóa Nam Bộ và Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

1.1.5. Đánh giá chung tổng quan về tình hình nghiên cứu

1.1.6. Các khái niệm liên quan đến đề tài

1.1.7. Các lý thuyết nghiên cứu

1.2. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.2.1. Trung tâm địa văn hóa - chính trị - kinh tế

1.2.2. Cấu trúc xã hội và sự hình thành cư dân đô thị

1.2.3. Kinh tế thị trường và sự hình thành thị trường công nghiệp giải trí

1.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

2. CHƯƠNG 2: DIỄN TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1. KỊCH NÓI Ở SÀI GÒN TRƯỚC 1975

2.1.1. Kịch nói ở Sài Gòn từ khi ra đời đến 1954

2.1.2. Kịch nói ở Sài Gòn từ 1954 đến 1975

2.2. KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ SAU 1975 ĐẾN NAY (2020)

2.2.1. Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh sau 1975 đến 1985

2.2.2. Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1986 đến 1996

2.2.3. Kịch nói ở Thành phố Hồ Chí Minh từ 1997 đến nay (2020)

2.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 2

3. CHƯƠNG 3: NHỮNG ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA NAM BỘ THỂ HIỆN TRONG KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1. TÍNH SÔNG NƯỚC TRONG KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.1.1. Thông qua thiết kế mỹ thuật sân khấu

3.1.2. Thông qua ngôn ngữ

3.2. TÍNH DUNG HỢP TRONG KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.2.1. Xét từ nguồn gốc ra đời, lực lượng nghệ sĩ

3.2.2. Xét từ đề tài, nội dung tác phẩm

3.2.3. Ứng dụng kịch hát truyền thống vào trong kịch nói

3.2.4. Ứng dụng âm nhạc dân gian truyền thống Nam Bộ vào trong kịch nói

3.2.5. Sử dụng khẩu ngữ, phương ngữ trong thoại kịch

3.3. TÍNH LINH HOẠT TRONG KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

3.3.1. Nhìn từ chủ thể sáng tác, biểu diễn, thưởng thức và tổ chức

3.3.2. Nhìn từ đề tài, thể loại

3.3.3. Nhìn từ phong cách nghệ thuật

3.4. TIỂU KẾT CHƯƠNG 3

4. CHƯƠNG 4: PHÁT TRIỂN KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

4.1. CHIỀU HƯỚNG TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KỊCH NÓI Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

4.1.1. Tác động theo hướng thuận lợi

4.1.2. Tác động theo hướng bất lợi

4.2. DỰ BÁO XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

4.2.1. Dự báo xu hướng phát triển

4.2.2. Một số khuyến nghị

4.3. TIỂU KẾT CHƯƠNG 4

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

PHỤ LỤC 1: TRÍCH BIÊN BẢN PHỎNG VẤN SÂU

PHỤ LỤC 2: DANH SÁCH CÁC VỞ DIỄN TRÊN SÂN KHẤU KỊCH NÓI Ở TP.HỒ CHÍ MINH

PHỤ LỤC 3: PHIẾU KHẢO SÁT

PHỤ LỤC 4: BIỂU ĐỒ KHÁN GIẢ

PHỤ LỤC 5: DANH SÁCH CÁC TÁC PHẨM KỊCH NÓI CÓ SỰ THAM GIA CỦA NGHIÊN CỨU SINH

PHỤ LỤC 6 - HÌNH ẢNH

PHỤC LỤC 7: BẢNG TỶ LỆ THÀNH PHẦN DÂN CƯ

PHỤ LỤC 8: DỰ THẢO BÁO CÁO HOẠT ĐỘNG NGHỆ THUẬT CỦA SỞ VĂN HÓA VÀ THỂ THAO TP.HCM TRONG CÁC NĂM 2017, 2018, 2019

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu kịch nói ở TP

Nghiên cứu kịch nói ở TP.HCM không chỉ đơn thuần là một lĩnh vực nghệ thuật mà còn là một phần quan trọng trong bức tranh văn hóa Nam Bộ. Kịch nói đã có mặt tại Sài Gòn từ những năm cuối thế kỷ XIX và đã phát triển mạnh mẽ qua các giai đoạn lịch sử. Tuy nhiên, việc nghiên cứu kịch nói dưới góc độ văn hóa Nam Bộ vẫn còn nhiều hạn chế. Luận án này nhằm làm rõ những đặc điểm văn hóa Nam Bộ thể hiện trong kịch nói, từ đó góp phần nâng cao nhận thức về giá trị văn hóa của loại hình nghệ thuật này.

1.1. Lịch sử hình thành kịch nói ở TP.HCM

Kịch nói ở TP.HCM đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ những ngày đầu tiếp nhận ảnh hưởng của văn hóa phương Tây cho đến nay. Sự phát triển này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong nghệ thuật mà còn là sự giao thoa văn hóa giữa các vùng miền.

1.2. Đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong kịch nói

Văn hóa Nam Bộ có những đặc điểm riêng biệt như tính sông nước, tính dung hợp và tính linh hoạt. Những đặc điểm này không chỉ thể hiện trong nội dung kịch mà còn trong cách dàn dựng, ngôn ngữ và mỹ thuật sân khấu.

II. Những thách thức trong nghiên cứu kịch nói ở TP

Mặc dù kịch nói ở TP.HCM đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Chất lượng nghệ thuật, số lượng khán giả và sự thiếu hụt nghiên cứu lý luận là những vấn đề cần được giải quyết. Việc thiếu các công trình nghiên cứu chuyên sâu về kịch nói từ góc độ văn hóa Nam Bộ đã làm giảm đi giá trị của loại hình nghệ thuật này trong đời sống văn hóa.

2.1. Khó khăn trong việc thu hút khán giả

Sự giảm sút số lượng khán giả đến xem kịch nói là một vấn đề nghiêm trọng. Nhiều nhà hát chỉ tồn tại trong thời gian ngắn do không đáp ứng được nhu cầu và thị hiếu của công chúng.

2.2. Thiếu hụt nghiên cứu lý luận

Hiện tại, chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về kịch nói ở TP.HCM dưới góc độ văn hóa học. Điều này dẫn đến việc thiếu các tiêu chí đánh giá và định hướng phát triển cho kịch nói trong tương lai.

III. Phương pháp nghiên cứu kịch nói ở TP

Để nghiên cứu kịch nói ở TP.HCM, luận án áp dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, bao gồm tổng hợp, phân tích, so sánh và phỏng vấn sâu. Những phương pháp này giúp làm rõ các yếu tố văn hóa Nam Bộ trong kịch nói và đánh giá thực trạng của loại hình nghệ thuật này.

3.1. Phương pháp tổng hợp và phân tích

Phương pháp này được sử dụng để hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến kịch nói, từ đó phân tích và đánh giá sự phát triển của kịch nói ở TP.HCM trong bối cảnh văn hóa Nam Bộ.

3.2. Phỏng vấn sâu với các nghệ sĩ và khán giả

Phỏng vấn sâu với các nghệ sĩ, nhà quản lý và khán giả giúp thu thập thông tin quý giá về nhu cầu và sở thích của công chúng đối với kịch nói, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho sự phát triển của loại hình nghệ thuật này.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu kịch nói

Kết quả nghiên cứu cho thấy kịch nói ở TP.HCM không chỉ phản ánh đặc điểm văn hóa Nam Bộ mà còn có khả năng thích ứng với những thay đổi trong xã hội hiện đại. Những ứng dụng thực tiễn từ nghiên cứu này có thể giúp nâng cao chất lượng nghệ thuật và thu hút khán giả trở lại với kịch nói.

4.1. Nâng cao chất lượng nghệ thuật

Để nâng cao chất lượng nghệ thuật, cần có sự đầu tư vào đào tạo nghệ sĩ và cải tiến phương pháp dàn dựng. Việc áp dụng các yếu tố văn hóa Nam Bộ vào kịch nói sẽ tạo ra những sản phẩm nghệ thuật độc đáo và hấp dẫn.

4.2. Khuyến nghị cho sự phát triển bền vững

Nghiên cứu đưa ra một số khuyến nghị nhằm phát triển kịch nói ở TP.HCM, bao gồm việc tăng cường hợp tác giữa các nhà hát, nghệ sĩ và các tổ chức văn hóa để tạo ra những sản phẩm nghệ thuật chất lượng cao.

V. Kết luận và tương lai của kịch nói ở TP

Kịch nói ở TP.HCM đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc nhận diện và phát huy những đặc điểm văn hóa Nam Bộ trong kịch nói sẽ giúp loại hình nghệ thuật này phát triển bền vững trong tương lai. Cần có sự quan tâm và đầu tư từ các cơ quan chức năng để kịch nói tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đời sống văn hóa của người dân.

5.1. Tương lai của kịch nói ở TP.HCM

Dự báo rằng kịch nói sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ nếu có sự hỗ trợ từ các chính sách văn hóa và sự tham gia tích cực của cộng đồng nghệ sĩ và khán giả.

5.2. Vai trò của kịch nói trong văn hóa Nam Bộ

Kịch nói không chỉ là một loại hình nghệ thuật mà còn là một phần không thể thiếu trong văn hóa Nam Bộ, phản ánh những giá trị văn hóa và tinh thần của người dân nơi đây.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận án tiến sĩ ngành văn hóa học kịch nói ở thành phố hồ chí minh nhìn từ đặc điểm văn hóa nam bộ

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: việc nghiên cứu lịch sử sân khấu Việt Nam từ xưa đến nay; Chương II: Sân khấu Việt Nam thời kỳ sơ khai tiến tới hoàn chỉnh một loại hình nghệ thuật (từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIV); Chương III: Sân khấu Việt Nam - từ thế kỷ XV đến hết thế kỷ XVIII; Chương IV: Sân khấu Việt Nam - Thế kỷ XIX. Trong mỗi chương tùy theo diện mạo sân khấu từng thời kỳ mà các tác giả đã có những đề cập tới các mặt bối cảnh lịch sử, xã hội, ảnh hưởng đến diện mạo chung của nền sân khấu. Tuy nhiên, công trình chỉ đề cập đến các loại hình sân khấu truyền thống chưa đề cập đến sân khấu kịch nói Việt Nam và thời gian nghiên cứu cũng đã quá xa. Phan Trọng Thưởng với công trình Văn học Việt Nam thế kỷ XX - Kịch bản kịch nói Việt Nam 1900-1945 (2009), gồm 1213 trang, lần đầu tiên công bố gần như toàn bộ những kịch bản kịch nói nổi tiếng của Việt Nam trong giai đoạn này.

Từ những kịch bản đầu tiên của kịch nói Việt Nam như “Chén thuốc độc”, “Tòa án lương tâm” của Vũ Đình Long đến kịch bản của những tác giả: Hoa Sơn Nguyễn Sơn Kim (Bạn và vợ), Tương Huyền (Nặng nghĩa tớ thầy), Đảnh Sơn (Thế tình hài kịch), Vi Huyền Đắc (Uyên ương, Cô Đốc Minh, Kim Tiền, Ông Ký Cóp),… Đáng chú ý là có sự thay đổi trong cách trình bày kịch bản (văn học kịch) từ chữ Sen (tiếng Pháp là: Scéne) được thay thành chữ Lớp (ngày nay gọi là Lớp diễn khi dàn dựng). Đây chính là sự thay đổi thú vị dưới góc độ văn học kịch của kịch nói Việt Nam giai đoạn này. Tuy nhiên công trình không có tác phẩm nào của kịch nói Nam Bộ - Sài Gòn trong giai đoạn này, thời gian công bố và tác phẩm cũng quá xa hiện tại. Tất Thắng với Lý luận kịch (2009), đã giúp người đọc hiểu hơn về vị trí, vai trò quan trọng, tính chất đặc trưng cơ bản của kịch bản văn học, nhận diện rõ hơn về kịch với tư cách là tác phẩm văn học đặt trong quan hệ với sân khấu trình diễn.

Một vở kịch được đánh giá hay bao gồm cả chất lượng của văn bản và khả năng biểu diễn của người nghệ sĩ. Một tác phẩm sân khấu nói chung và kịch nói nói riêng phải dựa trên các yếu tố cơ bản của vở diễn đó là: kịch bản của tác giả và kỹ thuật biểu diễn của diễn viên. Công trình cũng chỉ nói đến vấn đề lý luận kịch chung, chưa có những dẫn chứng từ kịch nói Nam Bộ -Tp.HCM, cũng như chưa đề cập đến các đặc trưng còn lại của nghệ thuật kịch nói như: khán giả, đạo diễn…Phạm Thị Hà trong luận án tiến sĩ Nghệ thuật học “Tính hiện đại trong kịch nói Việt Nam về đề tài lịch sử” (2014), đã cung cấp những lý luận chung về tính hiện đại trong văn học và nghệ thuật sân khấu. Tác giả đưa ra danh sách 38 kịch bản kịch nói Việt Nam về đề tài lịch sử và danh mục 18 vở diễn về đề tài lịch sử tại các liên hoan sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc.

Trong đó có các kịch bản của tác giả đang sinh sống và làm việc tại Nam Bộ - Tp.HCM như: Lê Duy Hạnh (Độc thoại đêm, Hoàng hậu hai vua, Dời đô, Nỏ thần…), Lê Chí Trung (Đời luận anh hùng, Đêm của bóng tối,…). Tuy nhiên tác giả chưa đưa ra được sự khác biệt về kịch nói về đề tài lịch sử được sáng tác và biểu diễn trên sân khấu Tp.HCM thì có gì khác biệt với kịch lịch sử được viết và dàn dựng trên sân khấu phía Bắc. Công trình cũng chưa đưa ra được những đặc trưng văn hóa Nam Bộ được phản ánh trong những vở kịch lịch sử trên các sân khấu tại Thành phố như thế nào, đây là điểm trống để nghiên cứu sinh tiếp tục nghiên cứu. Cao Thị Xuân Ngọc, trong luận án Tiến sĩ nghệ thuật học “Ảnh hưởng của thể hệ stanislavski với sân khấu Việt Nam” (2016), đã nêu, phân tích và khẳng định những giá trị của thể hệ Stanislavski - một yếu tố ảnh hưởng ngoại sinh - đã đóng góp không nhỏ cho sự phát triển của sân khấu kịch Việt Nam.

Tác giả cho rằng trong quá trình phát triển, sân khấu kịch Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố ngoại sinh, nhưng sâu đậm nhất là của Thể hệ Stanislavski. Dùng chính những lý thuyết của Stanislavski như: Lý thuyết về “Sân khấu hiện thực chủ nghĩa”, “Nghệ thuật biểu diễn hiện thực tâm lý”, “Hệ thống những bài học về đạo diễn”, “Biểu diễn thể nghiệm và thể hiện, “Đạo đức của người nghệ sĩ sân khấu”, tác giả đã mô tả và nêu lên những thành tựu của sân khấu kịch Việt Nam đã Việt hóa thành công Thể hệ này. Tác giả cũng cảnh báo tình trạng nghiệp dư hóa sàn diễn và cho rằng sân khấu kịch Việt Nam hiện nay cần được “học lại” bài học về thái độ cống hiến, tinh thần nghệ thuật của Thể hệ để sân khấu kịch Việt Nam tiếp tục phát triển chuyên nghiệp. Nghiên cứu về kịch nói ở Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh Trần Văn Khải công trình Nghệ thuật sân khấu Việt Nam: Hát bội, Cải lương, thoại kịch, thú xem diễn kịch (1970), tác giả đề cập đến sân khấu của miền Nam với các nội dung: giới thiệu về Hát bội, Cải lương, giai đoạn manh nha ra đời của thoại kịch (tân kịch).

Đáng chú ý, ở chương thứ ba có nội dung đề cập đến hoạt động của các ban kịch như: Dân Nam, Tân Dân Nam, Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Bích Sơn, Vũ Huân, Vũ Đức Duy… và một số gương mặt khả ái được yêu thích trên sân khấu kịch nói lúc bấy giờ như: Túy Phượng (ban kịch Tân Dân Nam), Thẩm Thúy Hằng (ban Thẩm Thúy Hằng), Kim Cương, Túy Hồng, Túy Hoa, Kiều Hạnh, Hương Xuân, Bạch Lan, Bạch Trường, Kiều Oanh, Bảy Ngọc, Phương Loan, Bích Thủy, Bích Sơn. Chương thứ tư tác giả bàn luận về Thú xem diễn kịch của người Sài Gòn nói riêng và người miền Nam ở các đô thị nói chung. Buổi đầu hình thành, kịch nói Nam Bộ non nớt trong học thuật, thiếu lý luận; các diễn viên kịch đầu tiên phần lớn là diễn viên Cải lương chuyển sang, hoặc là những ca sĩ. Giai đoạn này kịch nói chủ yếu diễn các tiết mục ngắn đan xen trong chương trình tạp kỹ.

Trần Văn Giàu - Trần Bạch Đằng (chủ biên) với công trình Địa chí Văn hóa Tp.HCM - tập III, Nghệ Thuật (1998), trong đó phần nghiên cứu về kịch nói đáng chú ý có các bài viết của Hoàng Như Mai giới thiệu những cột mốc đầu tiên về sự hình thành và phát triển của kịch nói tại Sài Gòn - Tp. Sau ngày 30/4/1975 sự bổ sung lực lượng nghệ sĩ từ chiến khu ra, từ ngoài Miền bắc vào cộng với các nghệ sĩ tại nội thành của Sài Gòn - Tp.HCM đã tạo nên một diện mạo mới cho sân khấu kịch nói tại nơi đây. Kịch Kim Cương được xem như một dấu ấn đặc biệt của kịch Nam Bộ trong tiến trình kịch nói tại Sài Gòn - Tp. Các mô hình/phương thức sân khấu: Sân khấu nhỏ, Sân khấu hài, cũng như tiến trình lịch sử của kịch nói trên vùng đất Sài Gòn - Tp.HCM là những nội dung chúng tôi sẽ kế thừa.

Trần Trọng Đăng Đàn với công trình 23 năm cuối của 300 năm văn hóa, nghệ thuật Sài gòn - Tp.HCM (1998), với 831 trang, gồm tập hợp các bài tiểu luận, phê bình, nghiên cứu của tác giả về nhiều vấn đề văn hóa nghệ thuật của Tp.HCM từ sau năm 1975 đến 1998. Đây là giai đoạn vàng son, sôi động bậc nhất của sân khấu Tp.HCM mà trong đó kịch nói đã trở thành một loại hình nghệ thuật đầu tàu, chủ đạo và được yêu thích nhất; Sự thành công của Sân khấu nhỏ 5B, ra đời của sân khấu XHH đầu tiên, cũng như thành công của những vở diễn trên sân khấu lớn với sức chứa hàng ngàn người như nhà hát Hòa Bình. Những thống kê về các đề tài, chủ đề mà sân khấu kịch nói Tp.HCM phản ánh trong giai đoạn này, mang đậm thực tiễn, đó cũng là nội dung mà chúng tôi sẽ tiếp tục làm rõ bởi kịch nói luôn phản ánh thực tiễn xã hội. Nguyễn Thị Minh Thái với công trình Sân khấu và tôi (1999), đã đề cập đến nghệ thuật sân khấu của nước nhà trong nhiều bài viết được tập hợp trong cuốn sách dày 600 trang.

Đáng chú ý là các bài viết về kịch nói ở Tp.HCM đã cung cấp một nguồn tư liệu quý giá là những: ghi nhận, phản ánh, nhận định sắc sảo về sân khấu kịch, kịch bản văn học, khán giả kịch ở thành phố trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 1999. Bên cạnh những thành công thì công trình cho thấy vẫn còn những trở lực mà trước hết là chất lượng nghệ thuật của kịch bản văn học và chất lượng các vở diễn. Lê Thị Thanh Thủy với luận văn Sân khấu nhỏ trong đời sống văn hóa ở Tp.HCM thời kỳ đổi mới (2003), tác giả đã giới thiệu được sự ra đời và phát triển của mô hình sân khấu nhỏ tại Tp.HCM giai đoạn từ năm 1984 đến năm 2003. Đã “hệ thống hóa” lý luận về sân khấu nhỏ, những đặc điểm và những hình thức quản lý của nó trong đời sống văn hóa Tp.HCM thời kỳ đổi mới.

Trong đó tác giả có nhấn mạnh đến sự ra đời cũng như vai trò tiên phong của Sân khấu 5B đơn vị sân khấu XHH đầu tiên của cả nước đã có những đóng góp tích cực trong quá trình tạo nên một hình thức biểu diễn mới mang tên sân khấu nhỏ tại Việt Nam. Trần Trọng Đăng Đàn Nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa-sân khấu Việt Nam cho đến đầu thế kỷ XXI: Nghiên cứu và quan sát từ Sài Gòn -Tp. Công trình nghiên cứu gồm 1049 trang với 6 nội dung chính: (1) Nghệ thuật sân khấu một cái nhìn tổng thể; (2) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa- sân khấu qua một số cuộc thi, hội diễn, liên hoan sân khấu; (3) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa - sân khấu qua một số vở diễn; (4) Nhận diện nghệ thuật sân khấu và đời sống văn hóa - sân khấu qua nghiên cứu những thành quả nghệ thuật; những nhận định, đánh giá; những quan điểm, quan niệm; những tâm tư nguyện vọng của chính các nghệ sĩ sân khấu; (5) Những nét nổi bật trên bức tranh toàn cảnh đời sống văn hóa - sân khấu và nghệ thuật sân khấu Việt Nam từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại và đây cũng chính là phần kết luận của cuốn sách.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ