Chương 1. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Mục tiêu của NCCB định hướng là tìm ra những tri thức mới về những nguyên lý giải pháp áp dụng mới theo yêu cầu của thực tiễn xã hội, đã có sẵn địa chỉ ứng dụng. Ví dụ: - Nghiên cứu gen trong lúa để tạo ra giống lúa mới. - Hoạt động thăm dò địa chất mỏ, hoạt động này hướng vào mục đích phục vụ nhu cầu khai thác khoáng sản, kết quả là khám phá ra quy luật phân bố khoáng sản trong lòng đất.
* Theo UNESCO chia NCCB định hướng thành 2 loại: 1. Nghiên cứu nền tảng: Là những nghiên cứu dựa tên các quan sát, đo đạc để thu thập số liệu và dữ kiện nhằm mục đích tìm hiểu, khám phá quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy. Ví dụ: Nghiên cứu dịch tễ học trong y học nhằm mô tả sự phân bố sức khỏe ở một khu vực dân cư. Nghiên cứu chuyên đề: Là những nghiên cứu có hệ thống trong một hiện tượng đặc biệt của tự nhiên.
Ví dụ: Trong trạng thái plasma của vật chất, bức xạ vũ trụ, gen di truyền. Loại nghiên cứu chuyên đề, không chỉ đem lại những cơ sở lý thuyết quan trọng, mà còn có thể dẫn đến những ứng dụng có ý nghĩa lớn lao trong hoạt động kinh tế và các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. b) Loại hình nghiên cứu ứng dụng (NCƯD, Applied - Research <A-R>) NCƯD là loại hình nghiên cứu dựa trên kết quả của nghiên cứu cơ bản để ứng dụng vào một ngành khoa học cụ thể hay một môn khoa học cụ thể nhằm đưa ra nguyên lý về giải pháp áp dụng, về quy trình công nghệ mới, về tổ chức quản lý. Mục tiêu của NCƯD là tìm cách vận dụng những tri thức mới của nghiên cứu cơ bản để tạo ra những quy trình công nghệ mới, những nguyên lý mới trong quản lý kinh tế và xã hội.
Kết quả của NCƯD: - Tìm ra nguyên lý giải pháp tác động bằng những phương pháp điều hành một quá trình luận chứng cho các biện pháp đạt mục tiêu, hoặc quá trình công nghệ trong công nghiệp; bằng giải pháp thông tin. - Đưa ra những đề xuất kiến giải, các phương pháp thao tác mới, nguyên lý công nghệ, nguyên lý kĩ thuật. - Ví dụ: + Nghiên cứu quy trình công nghệ gen vi sinh vật vào sản xuất nông nghiệp tạo ra các loại vật nuôi, giống cây trồng mới có năng suất cao, chất lượng tốt. + Dùng kết quả nghiên cứu vi sinh để sáng tạo ra nguyên lý công nghệ chế tạo tân dược.
+ Trong nghiên cứu y học, người ta nghiên cứu: Sử dụng Laser trên huyệt trong điều trị giảm đau ung thư vòm họng” với những giả thuyết về giải pháp được đề xuất 22 PHƯƠNG PHÁP NCKH TRONG QUẢN LÝ T I NGUYÊN V MÔI TRƯỜNG Chương 1. PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC chẳng hạn, nhóm huyệt được sử dụng trong điều trị bằng Laser cũng như điều trị bằng châm cứu thông thường. Đây là một loại hình nghiên cứu phù hợp với quy luật phát triển của khoa học hiện đại, nó làm rút ngắn thời gian từ khi phát minh đến khi ứng dụng. Chính NCƯD đã làm cho khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, tạo ra động lực thúc đẩy sự phát triển cả khoa học lẫn sản xuất.
NCƯD là một trong những con đường quan trọng nhất giúp cho các nước phát triển nhanh chóng, có thể bỏ qua giai đoạn NCCB tốn kém để tiến kịp các nước phát triển có tiềm lực khoa học mới. Nhật Bản là thí dụ điển hình và Việt Nam hiện nay. c) Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm (NCTr-TN, Research - Development<R - D>) NCTr-TN là loại hình nghiên cứu nhằm áp dụng các kết quả mà NCƯD đã đạt được vào thực nghiệm để từ đó phục vụ thực tế sản xuất và đời sống xã hội. Đó là sự áp dụng các nguyên lý, các quy trình triển khai các giải pháp của NCƯD để tạo ra các hình mẫu cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống xã hội.
Mục tiêu của loại hình này là tìm khả năng áp dụng đại trà các kết quả nghiên cứu ứng dụng vào thực tế sản xuất và đời sống xã hội, bằng cách tạo ra các mô hình chế biến thông tin khoa học thành sản phẩm tinh thần hay vật chất. Nghiên cứu triển khai - thực nghiệm thường là loại hình nghiên cứu nối liền khoa học và đời sống, là con đường đưa khoa học tới nơi cần sử dụng, chính nó đã làm cho ý tưởng khoa học trở thành hiện thực, làm phát triển nền kinh tế, văn hóa xã hội, làm tăng chất lượng cuộc sống của con người. Sản phẩm của NCTr-TN mới chỉ là những vật mẫu, hình mẫu có tính khả thi. Xây dựng khuôn mẫu một công nghệ khả thi, khuôn mẫu một sản phẩm khả thi.
Song muốn áp dụng được vào một điều kiện kinh tế hoặc xã hội nào đó, người áp dụng còn phải tiến hành nghiên cứu tính khả thi khác, như khả thi về tài chính, về kinh tế, về môi trường, về xã hội và chính trị. * NCTr-TN tiến hành trong các dạng sau: - Tiến hành trong phòng thí nghiệm với mục tiêu tìm kiếm môi trường, điều kiện, phương pháp thực hiện các kết quả NCƯD. Nói một cách khác, tiến hành thí nghiệm trong phòng nhằm khẳng định kết quả sao cho ra sản phẩm nhưng chưa quan tâm đến quy mô áp dụng. - Triển khai bán đại trà, có nghĩa là làm thử ở quy mô nhỏ trước khi nhân rộng.
Quá trình này giúp người nghiên cứu rút ra các kết luận cần thiết để bổ sung hoặc khắc phục trước khi triển khai rộng khắp. Nói một cách khác, là một dạng triển khai nhằm kiểm chứng giả thuyết về hình mẫu trên một quy mô nhất định, gọi là quy mô bán đại trà. - Trình diễn hoặc thao diễn trước khi sử dụng vào máy móc, công nghệ mới. PHƯƠNG PHÁP NCKH TRONG QUẢN LÝ T I NGUYÊN V MÔI TRƯỜNG 23 Chương 1.
PHƯƠNG PHÁP TIẾP CẬN TRONG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC * Hoạt động triển khai được áp dụng không chỉ trong lĩnh vực nghiên cứu KHTN, KHKT mà còn cả trong KHXH. Ví dụ: Hoạt động triển khai được áp dụng trong chế tạo một mẫu công nghệ mới, mẫu vật liệu mới, mẫu sản phẩm mới. Trong nghiên cứu giáo dục học, hoạt động triển khai thử nghiệm một phương pháp giảng dạy ở quy mô một điển hình hoặc một số lớp được chọn cho các đối tượng khác nhau. Trong nghiên cứu quản lý, hoạt động triển khai thử nghiệm một mô hình quản lý mới tại cơ sở thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, nghiên cứu thí điểm ở các địa bàn điển hình và nghiên cứu thăm dò mọi khả năng áp dụng vào thực tế.
* Ý nghĩa của sự phân chia các loại hình: - Đối với người nghiên cứu: + Việc phân chia các loại hình NCKH sẽ giúp các nhà nghiên cứu lựa chọn đề tài phù hợp với khả năng thực tế của bản thân. + Giúp người nghiên cứu biết xác định đề tài mà mình đang nghiên cứu thuộc loại hình nghiên cứu nào, từ đó xác định nguồn thông tin, loại thông tin cần phân tích, xử lý chính xác, phục vụ chủ đề nghiên cứu. - Đối với cán bộ lãnh đạo và quản lý: Trên cơ sở sự phân chia các loại hình NCKH xác định được định mức đầu tư nguồn lực khoa học và thời gian, xét duyệt chương trình và kế hoạch nghiên cứu trong từng thời kỳ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội chung của ngành và của quốc gia. Các loại hình có mối quan hệ biện chứng với nhau, cái nọ làm tiền đề cho cái kia phát triển.
Chúng có mối quan hệ bên trong, bên ngoài gắn bó hữu cơ với cuộc sống hiện thực xã hội. Quan hệ bên trong phản ánh mối quan hệ tất nhiên, cái nọ tiếp nối cái kia, không có cái này sẽ không có cái kia. Mối quan hệ bên ngoài phản ánh mối quan hệ gián tiếp hay trực tiếp với thực tiễn đời sống xã hội. Những mối quan hệ giữa các loại hình nghiên cứu khoa học được biểu hiện bằng sơ đồ: QH Trực tiếp Thế giới, sự vật, Cuộc sống hiện tượng NCCB NCƯD NCTr-TN xã hội hiện thực 24 PHƯƠNG PHÁP NCKH TRONG QUẢN LÝ T I NGUYÊN V MÔI TRƯỜNG Chương 2.
ĐẶT GIẢ THUYẾT V HÌNH TH NH ĐỀ T I NGHIÊN CỨU Chương 2. ĐẶT GIẢ THUYẾT V) HÌNH TH)NH ĐỀ T)I NGHIÊN CỨU 2. Định nghĩa giả thuyết Giả thuyết là câu trả lời ướm thử hoặc là sự tiên đoán để trả lời cho câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu. Chú ý: giả thuyết không phải là sự quan sát, mô tả hiện tượng sự vật, mà phải được kiểm chứng bằng các cơ sở lý luận hoặc thực nghiệm.
Các đặc tính của giả thuyết Giả thuyết có những đặc tính sau: - Giả thuyết phải theo một nguyên lý chung và không thay trong suốt quá trình nghiên cứu. - Giả thuyết phải phù hợp với điều kiện thực tế và cơ sở lý thuyết. - Giả thuyết càng đơn giản càng tốt. - Giả thuyết có thể được kiểm nghiệm và mang tính khả thi.
Một giả thuyết tốt phải thoả mãn các yêu cầu sau: - Phải có tham khảo tài liệu, thu thập thông tin. - Phải có mối quan hệ nhân - quả. - Có thể thực nghiệm để thu thập số liệu. Mối quan hệ giữa giả thuyết và “vấn đề” khoa học Sau khi xác định câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu khoa học, người nghiên cứu hình thành ý tưởng khoa học, tìm ra câu trả lời hoặc sự giải thích tới vấn đề chưa biết (đặt giả thuyết).
Ý tưởng khoa học này còn gọi là sự tiên đoán khoa học hay giả thuyết giúp cho người nghiên cứu có động cơ, hướng đi đúng hay tiếp cận tới mục tiêu cần nghiên cứu. Trên cơ sở những quan sát bước đầu, những tình huống đặt ra (câu hỏi hay vấn đề), những cơ sở lý thuyết (tham khảo tài liệu, kiến thức đã có,.), sự tiên đoán và những dự kiến tiến hành thực nghiệm sẽ giúp cho người nghiên cứu hình thành một cơ sở lý luận khoa học để xây dựng giả thuyết khoa học. Thí dụ, khi quan sát thấy hiện tượng xoài rụng trái, một câu hỏi được đặt ra là làm thế nào để giảm hiện tượng rụng trái này (vấn đề nghiên cứu). Người nghiên cứu sẽ xây dựng giả thuyết dựa trên cơ sở các hiểu biết, nghiên cứu tài liệu,.
như sau: Nếu giả PHƯƠNG PHÁP NCKH TRONG QUẢN LÝ T I NGUYÊN V MÔI TRƯỜNG 25 Chương 2. ĐẶT GIẢ THUYẾT V HÌNH TH NH ĐỀ T I NGHIÊN CỨU thuyết cho rằng NAA làm tăng sự đậu trái xoài Cát Hòa Lộc.