CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tác động của chăn nuôi tới đời sống và nền kinh tế 1. Vai trò của ngành chăn nuôi Xét trên bình diện thế giới, nhất là với các nước châu Á, chăn nuôi luôn là một ngành kinh tế nông nghiệp quan trọng.
Hiện nay trên toàn thế giới có hơn 600 triệu người nghèo đói, sống với mức trong khoảng dưới 1 đô la Mỹ/ ngày. Trên một mức độ nào đó họ dựa vào chăn nuôi gia đình làm kế sinh nhai, một nửa số này hiện đang sống tại châu Á (Thornton and all, 2002). Bên cạnh những người chăn nuôi, hàng triệu công việc liên quan xuất hiện song song với chuỗi giá trị của nó, trong các dịch vụ và cung cấp các vật tư và trong cả chuỗi mắt xích tiêu thụ, chế biến và bán lẻ. Theo tính toán có từ khoảng 4 đến 17 công việc ngoài trang trại được phát sinh khi ta thu gom, chế biến và tiêu thụ được 100 lít sữa, số lượng lao động phụ thuộc vào số sản phẩm được bán ra.
Đặc điểm nổi bật của nông nghiệp Việt Nam là hệ thống sản xuất kết hợp mà rõ ràng nhất là sự kết hợp mật thiết giữa chăn nuôi và trồng trọt, trong đó trâu bò được sử dụng làm sức cày kéo trong trồng trọt, cũng như nuôi lợn và trồng lúa hỗ trợ lẫn nhau. Ở đồng bằng Sông Hồng, nông dân thường ví cảnh sung túc với “lúa đầy bồ, lợn chật chuồng”, có nghĩa là nếu đầu lợn tăng sẽ có nhiều lúa gạo và ngược lại. Có thể thấy rất lâu rồi, phân chuồng được coi là loại phân có giá trị trong trồng lúa. Mặc dù lợn thực sự là tốn rất nhiều thóc gạo, nhưng trong hệ thống sản xuất nông hộ, sự mâu thuẫn này hình như không nghiêm trọng như ta nghĩ, có lẽ một phần vì người ta đã sử dụng hợp lý các nguồn thức ăn tại chỗ, một phần khác là do năng suất lúa vẫn còn có thể tăng mà chưa đạt đến mức giới hạn.
Người ta có thể thấy những lợi thế rõ ràng của ngành chăn nuôi như: sự khép kín với trồng trọt, phù hợp với khả năng đầu tư và trình độ kỹ thuật của c 5 nông hộ. Nó cũng cho phép sử dụng tốt hơn các giống địa phương có đặc điểm là năng suất thấp nhưng lại thích nghi tốt với điều kiện sinh thái. Trong cộng đồng canh tác, chăn nuôi có thể được coi là phương pháp có hiệu quả nhằm xóa đói giảm nghèo. Qua chăn nuôi, các sản phẩm có giá trị thấp (như ngũ cốc và phụ phẩm của nó) đã trở thành các sản phẩm protein động vật có giá trị cao.
Chăn nuôi lợn sản xuất trên 70% sản lượng thịt trong năm. Nó là một nghề truyền thống và có một vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt (73- 77%) cho sinh hoạt đời sống ngày một cao của nhân dân và cho xuất khẩu. Do đó nghề chăn nuôi lợn có một vị trí hàng đầu khi nói đến phát triển chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay. Chăn nuôi lợn theo phương thức truyền thống cung cấp phần lớn sản lượng thịt cho nhu cầu tiêu thụ trong nước.
Phương thức chăn nuôi này phát huy khả năng sử dụng nguồn thức ăn địa phương tại chỗ rất phong phú, đa dạng và sẵn có, phù hợp với những vùng kinh tế còn nhiều khó khăn. Cải tiến, nâng cao năng suất các giống lợn hiện có, phổ biến, tuyên truyền, chuyển giao các thiết bị khoa học như: giống, thức ăn, thú y, kỹ thuật chăn nuôi, kỹ thuật chuồng trại tới từng hộ nông dân cũng như các chính sách khuyến khích về vốn, đầu tư hỗ trợ cho nông dân là những biện pháp hữu hiệu khuyến khích chăn nuôi lợn phát triển góp phần xoá đói giảm nghèo và phát triển nền nông nghiệp bền vững. Cùng với xu hướng phát triển của thời đại một bộ phận đã dần dần chuyển sang chăn nuôi sản xuất hàng hoá, có kế hoạch đầu tư và tính hiệu quả kinh tế. Thực tế cho thấy Việt Nam có đầy đủ các điều kiện để phát triển chăn nuôi lợn hàng hoá có năng suất và chất lượng cao đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu.
Vấn đề đặt ra là tổ chức sản xuất, quản lý tốt việc sản xuất và cung ứng thức ăn, tìm kiếm thị trường xuất khẩu thế nào cho hợp lý. Hiện trạng môi trường của một số trang trại chăn nuôi lợn a) Hiện trạng môi trường chăn nuôi lợn của Việt Nam Hiện nay với sự hội nhập quốc tế kèm với nó là sự gia tăng những quy định về bảo vệ môi trường, ý thức ngày càng được nâng cao của cộng đồng về c 6 các vấn đề môi trường thì vấn đề môi trường nói chung và môi trường chăn nuôi nói riêng đã nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng. Trên thế giới môi trường chăn nuôi đã được đánh giá một cách khá toàn diện, một trong số đó là các nghiên cứu về xử lý chất thải chăn nuôi.Tại Việt Nam, mặc dù đã phần nào cảm nhận được tác hại về môi trường do chăn nuôi gây ra xong gần như chưa có một nghiên cứu đầy đủ nào về quản lý, xử lý chất thải chăn nuôi. Khi còn chăn nuôi nhỏ lẻ, kết hợp với việc sử dụng chất thải từ chăn nuôi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp thì chất thải chăn nuôi từ các hộ gia đình gần như không phải là một mối hiểm họa đối với môi trường.
Tuy nhiên, khi chăn nuôi chuyển sang hình thức tập trung theo quy mô lớn thì còn rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn, bò hàng ngày thải ra một lượng lớn chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương trong vùng làm nhiều hộ dân không có nước sinh hoạt (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc bệnh tiêu chảy, mẫn ngứa và ghẻ lở cao. Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng nặng tới môi trường sống khu dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên đất và ảnh hưởng lớn đến kết quả sản xuất chăn nuôi. Các hoạt động gây ô nhiễm do chăn nuôi vẫn đang tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi trên cả nước. Tình trạng chăn nuôi thả rông, chăn thả trên đất dốc, đầu nguồn nước v.
còn khá phổ biến đã làm tăng diện tích đất xói mòn, suy giảm chất lượng nước, giảm thiểu khả năng sản xuất nông nghiệp trên vùng rộng lớn. Ô nhiễm môi trường còn làm phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng lớn đến hiệu quả chăn nuôi. Trong hơn mười năm qua, từ 1997 đến nay, dịch lở mồm long móng trên gia súc đã diễn ra thường xuyên và đến nay chưa được khống chế triệt để. Từ cuối năm 2003, dịch cúm gia cầm đã bùng phát.
Từ năm 2003 đến nay, dịch đã tái phát 5 đợt, đã phải tiêu huỷ trên 51 triệu gia cầm các loại, thiệt hại ước tính lên đến hàng ngàn tỷ đồng. Từ đầu năm 2010 đã bùng phát hội chứng rối loạn hô hấp và sinh sản (bệnh tai xanh - PSSR) trên lợn, gây tổn thất lớn cho ngành chăn nuôi, gây mất an toàn thực phẩm và còn có c 7 nguy cơ lây nhiễm sang người nguy hiểm không kém bệnh cúm gia cầm, bệnh lở mồm long móng [2] Ngành chăn nuôi lợn vẫn chiếm ưu thế trong việc cung cấp ổn định các sản phẩm về thịt với biểu hiện là số lượng đàn lợn ít biện động từ năm 2012 - 2016, ĐBSH là vùng tập trung nhiều các trang trại chăn nuôi lớn với khoảng 6 - 7 triệu con, tiếp đến là vùng Đông Bắc, Bắc Trung Bộ và ĐBSCL với khoảng 2 - 3 triệu con. Rõ ràng ngành chăn nuôi phát triển nếu không đi kèm với các biện pháp xử lý chất thải sẽ làm môi trường sống của con người xuống cấp nhanh chóng. Môi trường bị ô nhiễm lại tác động trực tiếp vào sức khoẻ vật nuôi, phát sinh dịch bệnh, gây khó khăn trong công tác quản lý dịch bệnh, giảm năng suất không thể phát triển bền vững [9].
Phát triển chăn nuôi bền vững, nhất là chăn nuôi lợn hàng hóa như thế nào trong hoàn cảnh cuộc sống của phần lớn các hộ nông dân còn chật vật khó khăn, đại bộ phận người dân chăn nuôi theo kinh nghiệm; thiếu kiến thức chuyên môn, ít quan tâm về thông tin thị trường, nếu có thì thiếu cụ thể; hiểu biết về sản xuất hàng hóa chưa trở thành tiềm thức; kinh tế phát triển chưa đồng đều giữa các vùng,. là những rào cản trong phát triển chăn nuôi lợn hàng hóa hiện nay. Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi lợn phát triển với tốc độ rất nhanh nhưng chủ yếu là tự phát và chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật về chuồng trại và kỹ thuật chăn nuôi. Do đó năng suất chăn nuôi thấp và gây ô nhiễm môi trường một cách trầm trọng.
Ô nhiễm môi trường không những ảnh hưởng đến sức khỏe vật nuôi, năng suất chăn nuôi mà còn ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người và môi trường sống xung quanh. Với phương thức sử dụng phân chuồng không qua xử lý ổn định và nước thải không qua xử lý xả trực tiếp ra môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng. Công tác quản lý chất thải trong chăn nuôi lợn đang gặp nhiều khó khăn, việc sử dụng phân lợn trong nông nghiệp vẫn còn bị hạn chế do phân lợn không giống phân bò hay gia cầm khác. Phân lợn ướt và hôi thối nên khó thu gom và c 8 vận chuyển, phân lợn là phân “nóng” khó sử dụng, hiệu quả không cao và có thể làm chết hoặc mất năng suất cây trồng (sầu riêng mất mùi, nhãn không ngọt.
Theo điều tra tình hình quản lý chất thải chăn nuôi ở một số huyện thuộc TP. HCM và một số tỉnh lân cận chỉ có 6% số hộ nuôi lợn có bán phân cho các đối tượng sử dụng để nuôi cá và làm phân bón, khoảng 29% số hộ chăn nuôi lợn sử dụng phân cho bể biogas và 9% hộ dùng phân lợn để nuôi cá [2]. Theo kết quả điều tra đánh giá hiện trạng môi trường của Viện chăn nuôi (2010) tại các cơ sở chăn nuôi lợn có quy mô tập trung ở Hà Nội, Hà Tây, Ninh Bình, Nam Định, Quảng Nam, Bình Dương, Đồng Nai cho thấy: Chất thải rắn bao gồm chủ yếu là phân, chất độn chuồng, thức ăn thừa và đôi khi là xác gia súc, gia cầm chết. Kết quả điều tra hiện trạng quản lý chất thải chăn nuôi cho thấy 100% số cơ sở chăn nuôi đều chưa tiến hành xử lý chất thải rắn trước khi chuyển ra ngoài khu vực chăn nuôi.