Đặt Vấn Đề Cây khoai lang (Ipomoea batatas (L) Lam) có nguồn gốc ở khu vực nhiệt đới Châu Mỹ. Hầu hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang, được con người trồng cách đây trên 5.000 năm, là một loại cây dễ trồng, thời gian sinh trưởng ngắn, thích nghi với nhiều loại đất khác nhau đặc biệt nhất là phát triển nhất trên đất cát và đất phù sa sông. Ngoài ra nó cũng phát triển được trên chân đất xấu, nghèo dinh dưỡng. Khoai lang giữ vai trò quan trọng trong sản xuất lương thực, đặc biệt ở những nước nghèo có nền nông nghiệp chậm phát triển thì khoai lang là cây lương thực Ở Việt Nam, khoai lang là cây lương thực truyền thống đứng thứ ba sau lúa, ngô và đứng thứ hai về giá trị kinh tế sau khoai tây.
Khoai lang được trồng ở khắp các nơi trên cả nước từ Đồng bằng đến Miền núi, Duyên hải Miền Trung và ĐBSCL Khoai lang có rễ củ lớn, chứa nhiều tinh bột, có thể sử dụng củ ăn tươi, thái lát phơi khô, chế biến tinh bột dùng làm lương thực, thức ăn chăn nuôi, thân lá có thể làm rau xanh, chế biến bột, rượu cồn, bánh kẹo và gần đây đang được nghiên cứu để làm màng phủ sinh học (bioplastic). Thành phần củ chứa 68% nước, 0,8% protit, 28,5% gluxit, 34 mg canxi, 50 mg phốt-pho, 23 mg vitamin C. Thành phần khoai lang khô: 11% nước, 2,2% protit, 80% gluxit. Khoai lang rất dễ trồng, nhân giống bằng dây, ít bị sâu, bệnh, chi phí đầu tư trên đơn vị diện tích trồng khoai lang thấp, năng suất cao, thân lá khoai lang phát triển nhanh, mạnh lấn át cỏ dại rất tốt thích hợp với nhiều hộ nông dân nghèo trong việc phát triển kinh tế hộ gia đình hiện nay.
Với những ưu việt như n 2 vậy, nên cây khoai lang ngày càng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm để đưa cây khoai lang trở thành cây trồng chính trong nền sản xuất nông nghiệp. Những năm qua, công tác chọn tạo, nhân giống khoai lang ở Việt Nam đã có nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Nhiều giống được công nhận là giống quốc gia và đưa vào sản xuất đại trà như: VX-37, VX93, HL3,, HL4, KL-5, KB1., nhưng việc áp dụng giống mới vào các vùng trồng khoai chưa cao, chưa được đầu tư thâm canh và nguồn giống chưa đủ để đưa về các địa phương, vì vậy chưa đủ để đáp ứng cho nhu cầu của người nông dân. Trong những năm gần đây diện tích khoai lang có chiều hướng giảm xuống một cách rõ rệt.
Trong đó, nguyên nhân chính là do năng suất và chất lượng khoai lang tăng lên một cách chậm chạp, hơn nữa với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, người nông dân đã chọn lựa những cây trồng có hiệu quả kinh tế cao để đầu tư thâm canh, nên việc phát triển mở rộng diện tích trồng khoai lang chưa được quan tâm phát triển. Thái Nguyên là một tỉnh Trung Du và Miền núi thu nhập của người dân chủ yếu là từ nông nghiệp cùng một số cây trồng như; lúa, ngô, sắn thì khoai lang vẫn giữ vai trò không nhỏ trong sản xuất.Việc thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu theo hướng nâng cao giá trị thu nhập và đạt hiệu quả kinh tế trên 1 đơn vị diện tính thì 1 số cây như ngô lai, đậu tương có giá trị kinh tế cao để thay thế cho cây khoai lang có giá trị kinh tế thấp.Vì vậy, diện tích khoai lang năm 2012 tại Thái Nguyên là 6,3 nghìn ha năng suất đạt 6,3 tấn/ha, sản lượng là 39,6 nghìn tấn (Tổng cục thống kê Thái Nguyên năm 2012) [19] giảm so với năm 2011 với diên tích là 7,3 nghìn ha, năng suất 6,34 tấn, sản lượng 46,3 tấn ha. Nguyên nhân có thể do tập quán canh tác truyền thống hoặc vốn đầu tư còn thấp vì phần lớn các hộ nông dân còn nghèo nên diện tích cây khoai lang vẫn chiếm 1 vị trí quan trọng trong hệ thống cây trồng của tỉnh. Do đó việc chọn tạo những giống khoai lang có năng suất cao chất lượng tốt để phục vụ cho nhu cầu sản xuất của tỉnh là cần thiết và cấp bách.
n 3 Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng phát triển một số giống khoai lang vụ Đông năm 2014 tại Trường ĐHNLTN”. Mục đích và yêu cầu nghiên cứu đề tài 1. Mục đích của đề tài - Xác định được những giống khoai lang có triển vọng phù hợp với điều kiện canh tác vụ Đông tại Thái Nguyên. Yêu cầu nghiên cứu - So sánh đặc điểm sinh trưởng và phát triển các giống khoai lang trồng trong vụ Đông 2014.
- Nghiên cứu các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của một số giống khoai lang tham gia thí nghiệm. - Nghiên cứu khả năng chống chịu của một số giống khoai lang thí nghiệm. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần cung cấp thông tin về đặc điểm sinh trưởng phát triển, năng suất và chất lượng và khả năng chống chịu của các giống khoai lang tham gia thí nghiệm nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy và chọn giống.
Ý nghĩa trong sản xuất - Kết quả nghiên cứu của đề tài làm cơ sở đề xuất một số giống khoai lang có triển vọng trồng trong vụ Đông có năng suất cao chất lượng tốt phù hợp với sinh thái ở Thái Nguyên nói riêng và một số vùng trồng khoai lang ở Trung du và miền núi phía Bắc. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc và phân bố cây khoai lang Khoai lang [Ipomoea batatas (L.) Lam] là cây hai lá mầm thuộc chi Ipomoea, họ Convolvuaceae (Purseglove J., 1974) Võ Văn Chi và CS, 1969 [2]). Trong số gồm 50 tộc và hơn 1000 loài thuộc họ này thì Ipomoea batatas là loài có ý nghĩa kinh tế quan trọng và được sử dụng làm lương thực và thực phẩm.
Số lượng loài trong chi Ipomoea đã được xác định là hơn 400 loài, nhưng Ipomoea batatas là một loài cây trồng không được tìm thấy ở dạng hoang dại. Cây khoai lang với thân phát triển lan dài, các lá có nhiều hình dạng khác nhau từ dạng lá đơn đến chia thùy sâu (Mai Thạch Hoành, 1998) [7]. Mặt khác, cây khoai lang còn có khả năng thích ứng rộng hơn các cây trồng khác như cây sắn, củ từ, củ mỡ.Cây khoai lang khác với các loài khác về màu sắc vỏ củ (trắng, đỏ, kem, nâu, vàng hoặc hồng.) hay mầu ruột củ (trắng, kem, vàng, nghệ, đốm tím.) và khác nhau về khả năng đề kháng đối với sâu bệnh (Woolfe, 1992) [25]. Khoai lang có nguồn gốc nguyên thủy từ vùng nhiệt đới Châu Mỹ lan dần đến vùng phía Nam Thái Bình Dương.
Tuy nhiên, những nước mà cây khoai lang đóng vai trò quan trọng nhất lại là các nước mà cây khoai lang mới du nhập gần đây. Các thương gia ở Châu Âu đã mang đến Châu Phi, Châu Á và Đông Thái Bình Dương. Cây khoai lang được đưa vào Trung Quốc năm 1594 và Papua Niu Ghinê (PNG) khoảng 300 đến 400 năm trước (Yen, 1974) [27]. Hầu hết các bằng chứng về khảo cổ học, ngôn ngữ học và sử học đều cho thấy Châu Mỹ là khởi nguyên của cây khoai lang (Trung hoặc Nam Mỹ).
Theo Austin (1988) [21] cho rằng trung tâm của nguồn gốc của cây n 5 khoai lang trồng (I. batatas) là giữa bán đảo Yucatan của Mexico và vùng cửa sông Orinoco ở Venezuela. Từ đó cây khoai lang được lan truyền đến vùng Caribbean và Nam Mỹ vào khoảng 2500 năm TCN. Zhang Et Al (1998) cho rằng trung tâm khởi sinh thứ hai của khoai lang là ở Peru- Ecuador.,1977 [20] cho rằng khoai lang có nguồn gốc ở giữa vùng phía Bắc là quần đảo Yucatan và phía Nam là sông Orinoco với các trung tâm thứ cấp có sự đa dạng cao ở Guatemala và Nam Peru.
Nghiên cứu của Obrien, 1972 (dẫn theo Nguyễn Viết Hưng và cs, 2010) [11] cũng khẳng định: Trung tâm chính xác khởi nguyên của khoai lang là Trung hoặc Nam Mỹ., 1977 (dẫn theo Nguyễn Viết Hưng và c.s, 2010) [11] cho rằng khoai lang có nguồn gốc ở phía Bắc là quần đảo Yucatan và phía Nam là sông Orinoco với các trung tâm thứ cấp có sự đa dạng cao ở Guatemala và Nam Peru. Yen, 1982 [28] khi nghiên cứu về sự biến động ở Ipomoea batatas đã chỉ ra vùng có sự đa dạng cao bao gồm Colombia, Equador và Bắc Peru. Cây khoai lang tuy có nguồn gốc ở Châu Mỹ nhiệt đới nhưng được phân bố rộng rãi ở các vùng Nhiệt đới, Á nhiệt đới và vùng Ôn đới ẩm. Khoai lang được trồng rộng rãi ở Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Á, Châu Âu.
từ 40° vĩ Bắc xuống 32° Nam. Ở vùng xích đạo khoai lang còn được trồng ở độ cao 3000 m so với mặt biển (Woolfe J.Khoai lang được phổ biến rất sớm trong khu vực này, bao gồm cả khu vực Caribe. Nó cũng đã được biết tới trước khi có sự thám hiểm của người phương Tây tới Polynesia. Nó được đưa tới đây như thế nào là chủ đề của các cuộc tranh luận dữ dội, có sự tham gia của các chứng cứ từ khảo cổ học, ngôn ngữ học và di truyền học.
Tại Á Châu khoai lang được trồng đầu tiên tại Ấn Độ sau đó đến Trung Quốc từ năm 1954. Tại Việt Nam thì khoai lang cũng được trồng từ lâu nhưng n 6 chưa rõ nguồn gốc suất sứ và thời gian du nhập theo các tài liệu cổ như sách”Thực vật bản thảo”, “Lĩnh nam tạp kỷ” và “Quảng Đông tân ngữ” của Lê Quý Đôn (Viện Hán Nôm, 1995) [16], (Bùi Huy Đáp 1984 [5], cây khoai lang có nhiều khả năng là cây trồng nhập nội và có thể được đưa vào nước ta từ nước Lã Tông (đảo Luzon ngày nay) vào cuối đời Minh cai trị nước ta. Trong “Thảo mộc trang” có đoạn viết: “Cam thự (khoai lang) là củ thuộc loài Thử Dự, rễ và lá như rễ khoai, củ to bằng nắm tay, to nữa bằng cái bình, da tía, thịt trắng, người ta luộc ăn” (Bùi Huy Đáp 1984) [5], (Viện Hán nôm, 1995) [16]. Sách “Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam” (Nhà xuất bản khoa học xã Hội 1987) đã có ghi: ” Năm 1558 (năm Mậu Ngọ) [1], Khoai lang từ Philippin được đưa vào Việt Nam, trồng đầu tiên ở An Trường - Thủ đô tạm thời của đời nhà Lê Trung Hưng (Hậu Lê), nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa”.
Như vậy, khoai lang đã có mặt ở Việt Nam cách đây khoảng gần 450 năm.