Đặt vấn đề Cây bƣởi (Citrus grandis L. Osbeck) là loại cây ăn quả rất quen thuộc với ngƣời dân Việt Nam. Quả bƣởi tƣơi dễ vận chuyển, bảo quản đƣợc nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên hƣơng vị, phẩm chất. Những năm gần đây, nghề trồng cây ăn quả đã góp phần vào việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ, làm tăng giá trị sử dụng đất, tăng thu nhập cho hộ nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, phủ xanh đồi núi trọc, cải thiện môi trƣờng sinh thái.
Đặc biệt trong tƣơng lai gần ngành trồng cây ăn quả là một trong những ngành sản xuất hàng hóa lớn có giá trị xuất khẩu cao. Cây ăn quả có múi (cam, quýt, bƣởi, chanh) là những loài cây ăn quả có giá trị dinh dƣỡng và giá trị kinh tế cao, dễ sử dụng và đƣợc nhiều ngƣời ƣa chuộng. Trên thế giới quả có múi đã trở thành loại quả quan trọng đối với đời sống của ngƣời dân và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Giá trị dinh dƣỡng mà cây ăn quả có múi đem lại đặc biệt từ quả bƣởi là không nhỏ, hàm lƣợng và thành phần các chất trong quả với 100g phần ăn đƣợc thì có 38 Kcal năng lƣợng, 9,62g tinh bột, 20IU vitamin A.
Trong 1g chất xơ thực phẩm có: 0,76g protein, 0,04g chất béo, 0,034 mg vitamin B1, 0,027 mg vitamin B2, 0,22 mg vitamin B3, 0,036 mg vitamin B6,44 mg vitamin C ngoài ra còn có: sắt, magiê, mangan, photpho, kali, natri, kẽm; trong lá, hoa, vỏ quả bƣởi đều có tinh dầu. Vỏ quả bƣởi còn có pectin, naringin (một loại glucozid), men tiêu hóa amyraza, và các loại men khác. Vì vậy mà bƣởi giúp cho việc bảo vệ và ổn định sức khỏe con ngƣời. n 2 Bƣởi còn là nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp chế biến quả tƣơi còn là mặt hàng nông sản xuất khẩu có giá trị cao đóng góp vào GDP cho nền kinh tế đất nƣớc.
Cây bƣởi có khả năng thích ứng rộng, đƣợc trồng ở nhiều vùng khác nhau từ Nam ra Bắc, đã có những thƣơng hiệu rất nổi tiếng nhƣ bƣởi Đoan Hùng, Đại Minh, Năm Roi, bƣởi Đỏ, Phúc Trạch… Cho đến nay tại Việt Nam đã có gần 70 giống bƣởi. Giống bƣởi Đại Minh là giống bƣởi địa phƣơng mang nhiều đặc tính tốt. Tuy nhiên do tập quán canh tác cũ, thƣờng là trồng rồi bỏ đấy, không đầu tƣ chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh, chiệt tận thu… nên các vƣờn có biểu hiện suy thoái, suy kiệt, sâu bệnh nhiều cho năng suất thấp. Giống bƣởi Đỏ Tân Lạc có quả hình tròn, vỏ màu vàng khi chín múi bƣởi có màu hồng đỏ, quả có khối lƣợng trung bình từ 0,9– 1,4kg.
Tép bƣởi Tân Lạc có màuđỏ hồng, mọng nƣớc , ăn rất giòn ngọt và không bị he đắng. Cây bƣởi đỏ Tân Lạc Hòa Bình (bƣởi đào Tân Lạc) cho năng xuất rất cao và ổnđịnh, với cây 7 năm tuổi cho năng xuất từ 260 – 320 quả/cây. Để nghiên cứu vấn đề trên, chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của giống bưởi đỏ Tân Lạc tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái”. Mục đích và yêu cầu của đề tài * Mục đích: Đánh giá khả năng sinh trƣởng của bƣởi Đỏ Tân Lạc trong điều kiện trồng tại xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
* Yêu cầu: - Theo dõi và mô tả đặc điểm hình thái của 2 giốngbƣởi nghiên cứu. - Đánh giá đƣợc khả năng sinh trƣởng của 2 giống bƣởi nghiên cứu. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Rèn luyện và nâng cao khả năng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cho sinh viên, là một cơ sở và tiêu chí cho việc đánh giá chất lƣợng sinh viên của trƣờng Đại học Nông Lâm Thái Nguyên.
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở cho việc thực hiện các đề tài nghiên cứu tiếp theo về cây bƣởi tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái, là tƣ liệu, nguồn tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác giảng dạy, đào tạo trong và ngoài nhà trƣờng. Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Bƣớc đầu đƣa ra đƣợc các đánh giá về khả năng sinh trƣởng của giống bƣởi đỏ Tân Lạc nghiên cứu khi trồng tại xã Tân Nguyên, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái. - Tính chống chịu và đánh giá triển vọng của các giống. - Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng và mở rộng mô hình diện tích trồng bƣởi tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài Tất cả các loại cây trồng nói chung và cây bƣởi nói riêng đều chịu tác động và ảnh hƣởng bởi các nhân tố sinh thái. Khả năng sinh trƣởng và phát triển của cây trồng phản ánh mức độ biểu hiện của cây trồng đó với các yếu tố tác động và ảnh hƣởng tới nó thông qua năng suất và chất lƣợng sản phẩm cây tạo ra. Tùy vào từng môi trƣờng cụ thể, mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố là nhiều hay ít mà cây trồng sẽ có sự thích nghi tƣơng ứng.
Do đó, việc theo dõi khả năng sinh trƣởng và phát triển của các giống bƣởi thí nghiệm là rất cần thiết trong công tác chọn giống, nhất là với những giống cây mới đƣợc tuyển chọn. Qua đó đánh giá đƣợc khả năng thích nghi của chúng, nhằm chọn ra đƣợc giống bƣởi phù hợp để bổ sung vào cơ cấu giống của sản xuất. Nguồn gốc, phân loại và phân bố Cây bƣởi có tên khoa học là Citrus grandis (L). Trong hệ thống phân loại, bƣởi thuộc họ cam (Rutaceae), họ phụ Aurantioideae, chi Citrus, chi phụ: Eucitrus, loài grandis (Đỗ Đình Ca và cs, 2008) [2] ;(Đoàn Văn Lƣ và cs, 2002) [10] Bƣởi (C.
grandis L), tên tiếng Anh là Pummelo, có nguồn gốc từ Malaysia và quần đảo Ấn Độ và đƣợc phân bố rộng tới quần đảo Fiji, Châu Âu và cả các nƣớc vùng Địa Trung Hải (Vũ Công Hậu, 1996) [9]. Có một loài khác gọi là bƣởi chùm (C. paradisi), có thể là biến dị hoặc một dạng lai của chúng. Bƣởi chùm chủ yếu đƣợc sản xuất ở các nƣớc thuộc Châu Mỹ, vùng Địa Trung Hải, Úc và Châu Phi.
Các nƣớc Châu Á rất ít trồng loài bƣởi này. Bƣởi đôi khi còn đƣợc gọi là Shaddock(Bùi Huy Đáp, 1960) [6], là loại quả có múi to điển hình của vùng nhiệt đới. Một số nƣớc nhƣ Thái Lan, Trung Quốc, Indonexia phân chia bƣởi làm 2 nhóm: nhóm quả ruột trắng và nhóm n 5 quả ruột hồng (sắc tố). Cũng cần phân biệt giữa bƣởi Pummelo và Pummeloes, Pummeloes là những giống có quả cực lớn (bòng hoặc kỳ đà), hàm lƣợng axit thấp tƣơng tự nhƣ nhóm cam không axít (hàm lƣợng axít khoảng 0.
Bƣởi là những giống có kích thƣớc quả nhỏ hơn so với Pummeloes và hàm lƣợng axit cao hơn nên còn gọi là bƣởi chua, phần lớn các giống bƣởi là bất tự tƣơng hợp (self-incompatible) và lai với nhau một cách dễ dàng nên trong tự nhiên có rất nhiều giống đã đƣợc phát sinh do lai. Đặc điểm thực vật học 2. Bộ rễ Bƣởi thuộc loại rễ trụ có rễ nhánh phát triển. Nhìn chung rễ bƣởi ăn nông từ (0-30 cm) và hoạt động mạnh sau khi trồng từ 1-8 năm, sau đó giảm dần và khả năng tái sinh kém, ở Việt Nam rễ bƣởi phát triển rất mạnh từ tháng 2 đến tháng 9 và hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ: tháng 2 - 3, tháng 6 - 8 và tháng 10.
Dựa vào đặc điểm của bộ rễ ta có biện pháp kỹ thuật nhƣ sau: Trƣớc tiên là trồng nông, khi bón phân nên bón nông (tùy thuộc vào điều kiện cụ thể), bón theo hình chiếu của tán cây (sâu từ 10-40cm) bón tập trung vào 3 thời kì rễ hoạt động mạnh nhất, trƣớc lúc cây ra các đợt lộc thì cây sẽ hấp thụ đƣợc hiệu quả nhất. Đặc điểm sinh trưởng thân, cành Sinh trƣởng cành của cây có múi nói chung và bƣởi nói riêng phụ thuộc vào tuổi cây, điều kiện môi trƣờng và kỹ thuật chăm sóc. Nhìn chung những cây trẻ chƣa cho quả sinh trƣởng của cành (phát sinh lộc) thƣờng xảy ra quanh năm, nghĩa là một năm thƣờng có nhiều đợt cành xuất hiện. Khi cây trƣởng thành đã cho quả thì thƣờng chỉ có 4 đợt lộc trong năm, đó là lộc xuân, lộc hè, lộc thu và lộc đông.
Ở những vùng khô hạn, hoặc rét sớm thì chỉ có 3 đợt lộc xuân, hè và thu, không có lộc đông (Lý Gia Cầu, 1993)[2], (Davies F. n 6 - Lộc xuân: xuất hiện từ tháng 2 đến tháng 4 hàng năm. Số lƣợng cành xuân thƣờng nhiều, chiều dài cành tƣơng đối ngắn. Thƣờng cành xuân là cành ra hoa và cho quả nên gọi là cành quả (Davies F.
- Lộc hè: xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 hàng năm, thƣờng xuất hiên không tập trung, sinh trƣởng không đều, cành thƣờng to, dài, đốt thƣa. Cành hè là cành sinh dƣỡng có nhiệm vụ cung cấp dinh dƣỡng cho cành quả và là cành mẹ của cành thu. Tuy nhiên nếu cành mùa hè nhiều sẽ dẫn tới sự cạnh tranh dinh dƣỡng đối với quả và có thể gây rụng quả nghiêm trọng, do vậy cần phải cắt tỉa để lại một số lƣợng cành thích hợp (Davies F. - Lộc thu: xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 10 hàng năm, mọc đều và nhiều hơn cành mùa hạ.
Cành thu thƣờng mọc từ cành mùa xuân không mang quả và phần lớn từ cành mùa hè, có vai trò quan trọng trong việc mở rộng tán, tăng cƣờng khả năng quang hợp của cây và là cành mẹ của cành xuân, do vậy số lƣợng và chất lƣợng của cành thu có ảnh hƣởng trực tiếp đến số lƣợng và chất lƣợng cành xuân, cành mang quả của năm sau (Davies F. - Lộc đông: xuất hiện vào tháng 11 và tháng 12 hàng năm, đợt cành này ít, cành ngắn, lá vàng xanh. Nếu xuất hiện nhiều sẽ làm tiêu hao dinh dƣỡng, ảnh hƣởng đến sự phân hoá mầm hoa của cành quả ) (Davies F. - Căn cứ vào chức năng của các loại cành, ngƣời ta phân cành bƣởi ra các loại: + Cành mẹ: là cành sinh ra cành quả.
Nó có thể là cành xuân, hè, thu năm trƣớc. Qua theo dõi cho thấy tuỳ theo giống, thƣờng cành thu hoặc cành hè làm cành mẹ thì số cành quả nhiều và tỷ lệ đậu quả cao. + Cành dinh dƣỡng: cành không ra hoa, quả, chỉ có lá xanh, có nhiệm vụ là quang hợp. Thuộc loại cành dinh dƣỡng có một loại cành đặc biệt thƣờng mọc vào mùa hè đó là “cành vƣợt”.Cành này mọc từ trong thân chính n 7 đâm thẳng ra, dài 30cm đến 1,5m, có gai dài và to, đốt lá dài và lá to màu xanh nhạt.
Đây là cành xung sức nhất.