Chương 1 TONG QUAN TAI LIEU 1.1 Tổng quan về cây cà ho cà Cây họ cà có tên khoa học là Solanaceae, là một loại thực vật có hoa. Tên khoa học của họ này có nguôn gôc từ tiêng Latinh Solanum, nghĩa là “cây cà dược”. Ở Việt Nam, họ cà gồm các cây thân thảo hoặc cây nhỏ, phân bố rộng khắp cả nước. Một số loài được trồng dùng làm thực phẩm (cà tím, cà pháo, cà chua, khoai tây), gia vi (ớt), cây công nghiệp (thuốc lá) hoặc cây dược liệu.1 Cây cà chua Cay cả chua có tên khoa học là Solanum lycopersicum L., thuộc họ cà (Solanaceae) là một loại rau ăn quả có nguồn gốc từ Nam Mỹ.
Theo Somraj và ctv (2017) cùng với Nalla và ctv (2016) thì cả chua là một loại cây rau quan trọng, phổ biến và được trồng rộng rãi khắp nơi trên thé giới, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới, cận nhiệt đới và ôn đới. Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO, 2020), diện tích trồng cà chua trên thé giới vào khoảng 5.983 ha với sản lượng 186. La cây rau có giá trị, có sản lượng chiếm 1/6 tổng sản lượng rau hàng năm trên thế giới và luôn đứng ở vị trí số 1 về sản lượng. Cà chua có tầm quan trọng chỉ sau khoai tây ở nhiều quốc gia và đứng thứ nhất về rau được bảo quản, chế biến và cả mục đích sử dụng tươi.
Ở Việt Nam, diện tích sản xuất cà chua cả nước trong những năm gần đây dao động khoảng từ 23 - 25 nghìn ha, giảm 6,9% so với năm 2015 (25. Trong đó, các tỉnh thuộc khu vực phía Bắc và khu vực Lâm Đồng diện tích sản xuất khoảng trên 19.418 ha, chiếm §1,6% tong dién tich san xuất cà chua cả nước.2 Cay khoai tay Khoai tây có tên khoa học là Solanum tuberosum L., thuộc họ cà (Solanacea) có nguồn gốc xuất xứ ở day Andes. Khoai tây được trồng lâu đời ở Nam Mỹ và được đưa vào châu Au từ thé ki 16. Sau đó, khoai tây được trồng ở nhiều nơi và dan trở thành cây lương thực chủ đạo thay cho một số loại cây khác.
Ở nước ta, khoai tây được du nhập vào từ người Pháp từ đầu thế kỉ 19. Theo tổ chức nông lương thé giới (FAO, 2020), diện tích trồng khoai tây trên thé giới vào khoảng 16.810 ha với sản lượng 359.3 Cây ớt Cây ớt (Capsicum annuum L.) có nguồn gốc nhiệt đới và cận nhiệt đới Châu Mỹ. Cây ớt có mặt ở nước ta được du nhập từ Trung Quốc, An Độ. Diện tích phân bồ khá rộng rãi, tập trung ở miền Bắc và miền Trung, còn ở miền Nam diện tích trồng ớt còn phân tan với qui mô nhỏ.
Theo tổ chức nông lương thế giới (FAO, 2020) cây ớt được xem là một trong những cây trồng quan trọng của vùng nhiệt đới. Diện tích trồng ớt thế giới vào khoảng 2.990 ha cho mục đích lay quả tươi với sản lượng 36.2 Tổng quan về bệnh héo rũ trên cây họ cà Bệnh héo Fusarium oxysporum là một hội chứng héo do mach gây tử vong ở thực vật thuộc ho Solanaceae (Omar & Ahmed, 2014 ).Nắm Fusarium Oxysporum bao gom hon 120 chủng hoặc dạng đặc biệt đã biết, mỗi chủng đặc trưng cho một cây ky chủ duy nhất mà nó gây bệnh. Fusarium oxysporum gây héo rũ trên ca chua. Bệnh héo rũ trên cà chua là một bệnh phá hoại cà chua ở một số quốc gia trên thé giới, và được người sản xuất rất quan tâm do sản lượng mắt nhiều, nắm tồn tại kéo đài trong đất và phát sinh các chủng kháng thuốc.
Bệnh có thể được giảm bớt ở một mức độ nào đó khi sử dụng các giống cây trồng kháng thuốc và hóa chất. Tuy nhiên, sự phát triển thành các chủng gây bệnh mới vẫn là một vẫn đề liên tục. Đặc trưng của bệnh này là các lá dưới bị vàng trước sau đó vàng lan lên các lá trên. Triệu chứng héo rũ hoặc biến vàng có thể xuất hiện một vài cành trên cây hay cả cây, cây bị nhiễm bệnh các lá bị vàng, héo sau đó cây chết, cắt ngang thân cây bị bệnh các tế bào thường hóa nâu.
Đầu tiên là các lá ngọn bị héo vao buổi trưa, và tươi lại vào buổi chiều mát, sau vài ngày cây bệnh chết hắn không còn khả năng hồi phục. Nếu cây chết nhanh và ta quan sát được rễ bị thối, cây phát triển kém. Trong thân, các mô dẫn truyền có mau nâu và có nam phát triển ở gốc nơi mặt dat thấy thân cây top nhỏ lại và đôi khi có lớp tơ mỏng màu trắng bao phủ là do nắm Fusarium oxysporum. Các lá giả khi cây chết có màu vàng và khô.
Nam bệnh lưu ton trong đất và trong xác cây bệnh. Nam xâm nhiễm vao rễ qua các vết thương (do cơ học hoặc do tuyến trùng chích hút rễ) rồi phát triển lên thân, chủ yếu là làm nghẽn sự vận chuyển nước và chất dinh dưỡng trong cây, gây ra hiện tượng vàng lá và héo cây, ngòai ra nam còn tiết độc chat hại cây. Năm 2018, theo như bản tin khuyến nông của tỉnh Lâm Đồng đưa ra Bệnh héo rũ chết vàng hại cà chua thường xuất hiện trên cây cà chua trưởng thành sau khi ra hoa. Bệnh khiến toàn cây chuyên vàng, cuối cùng cây bị chết héo.
Thiệt hại không nhỏ tới năng suất và chất lượng cà chua, bệnh héo rũ có khả năng gây thiệt hại lên đến 30-40% năng suất khoai tây của Việt Nam cũng như trên thế giới (Nguyễn Đức Huy và ctv, 2022). Trên thế giới, bệnh héo rũ gây thiệt hại đến năng suất từ 25-55% nhiều vùng trồng cà chua ở An Độ (Nirmaladevi và ctv, 2016).3 Tác nhân gây bệnh héo rũ hại cây trồng 1.1 Nam Fusarium oxysporum gây héo rũ Fusarium oxysporum thuộc lớp nam bat toàn (Deuteromycetes), Fusarium gồm nhiều loài khác nhau, có khả năng gây nhiều loại bệnh trên những cây trồng khác nhau. Chúng hoại sinh hoặc ký sinh trên nhiều cây trồng, cây ăn trái và rau. Nó là nguyên nhân chính làm héo rũ.
Hệ sợi nam lan tỏa khắp mô mach và lap kin mạch gỗ. Sự lấp mach gỗ sẽ cản trở quá trình vận chuyên nước làm héo cây. Hệ sợi nắm phân nhánh, có vách ngăn, sợi nắm thường không màu, chuyển màu nâu khi gia. Hệ sợi nam sản sinh độc tố tiết vào hệ mạch gây héo cây chủ.
Cơ thể dinh dưỡng dạng sợi đa bào, phân nhánh phức tạp, vách ngăn có lỗ thủng đơn giản ở giữa. Trong một tế bảo có một nhân hoặc nhiều nhân, vách tế bào bằng chitin, glucan. Nam sống hoại sinh hoặc ky sinh trên thực vat, gặp phổ biến trong đất, cũng gặp trên các vật liệu cellulose (Nguyễn Lân Dũng và ctv, 1982). Fusarium oxysporum có thê tồn tại trong đất đưới dang bào tử áo qua thời gian dài, bào tử áo có thê lưu ton trong đất từ 15 — 20 ngày.
Nhiệt độ thích hợp cho nắm phát triển là 25°C — 30°C. Bệnh lây lan qua thân rễ, đất bị nhiễm bệnh và truyền qua giống, ngoài bệnh có thê lây lan qua nguôn nước va cơ giới Fusarium oxysporum thường tân công cây trồng dé dàng khi bị thiếu ánh sáng. Fusarium oxysporum phát triển nhanh chóng trên môi trường PDA ở nhiệt độ 25°C và hình thành tan nắm có hình thé tơi xốp như bông hoặc bằng phẳng hoặc lan rộng trên môi trường nuôi cấy. Mặt trên của tản nắm có thể có màu trắng, kem, vàng, vàng cam, đỏ, tím hồng hoặc tím.
Mặt dudi nó có thé không màu, vàng cam, màu đỏ, mau tia sam, hay màu nâu (Seifert, 1996).1 Hình thức sinh sản của nam Fusarium oxysporum có 2 hình thức sinh sản: sinh sản sinh dưỡng và sinh sản vô tính. Do thiêu giai đoạn sinh sản hữu tính trong vòng đời nên người ta gọi chung là nam không hoản chỉnh hay nam bat toàn. Sinh sản sinh dưỡng Soi nam: Từ 1 sợi nam riêng rẽ, khi gap điều kiện thuận lợi sẽ sinh trưởng và phân nhánh thành hệ sợi nam. Bao tử hau (bao tử mang day, bao tử áo): Bao tử hậu là những tế bao hoi tron, có tế bào chất được cô đặc lại (Lin và Heitman, 2005), có màng dày bao bọc (Lê Xuân Phương, 2001), thỉnh thoảng có bào tử hậu với vách tế bào xù xì hoặc có sắc tố (Seifert, 1996).
Bao tử hậu có thé nằm ở giữa sol nam hoặc ở đầu tận cùng của no (Lin va Heitman, 2005; Lê Xuân Phuong, 2001); có thể ở dạng đơn lẻ, dạng cặp đôi, dạng chuỗi hay dạng cụm. oxysporum, bào tử hậu thường ở dạng đơn, đôi, thỉnh thoảng dạng ba và ít khi có dạng cụm. Tuy nhiên, có một số loài (đặc biệt là F. proliferatum) có sợi nam khí sinh với chuỗi những tế bào phình to, rat dé bị nhầm là bào tử hau (Seifert, 1996).
Sinh sản vô tính Ở các loài Fusarium bào tử đính thường là bào tử ngoại sinh, có 2 loại: bào tử đính lớn và bào tử đính nhỏ. Bào tử đính lớn (bào tử lớn): Bào tử trong suốt, được hình thành từ thể bình trên cành bào tử có nhánh hay không có nhánh. Bao tử lớn có kích thước 3 — 8 x 11 — 70 pm. Hầu hết các loài Fusarium có bào tử lớn từ 3 — 7 vách ngăn, tuy nhiên có nhiều loài có từ 1 — 3 vách ngăn (F.
poae) hoặc nhiều hơn 7 vách ngăn (F. Bào tử lớn có hình lưỡi liềm hay hình trụ. Các loài Fusarium khác nhau có thé phân biệt được tùy theo mức độ cong của bao tử lớn (thang ở bên phải và cong rõ ràng ở bên trái); tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của bào tử (thon nhọn ở đầu và to ở giữa). Phần to nhat của bao tu lớn cũng có thê là một đặc diém dé nhận dạng các loài Fusarium.
Bào tử đính nhỏ (bào tử nhỏ): Kích thước 2 — 4 x 4 — 8 um, được hình thành từ cành bào tử phân sinh phân nhánh hoặc không phân nhánh, mọc trực tiếp từ sợi nắm hoặc tụ lại thành dạng bọc giả trên đầu cành hoặc hình thành dạng chuỗi (Vũ Triệu Mân và Lê Lương Té, 1988). Bao tử có 0 — 1 vách ngăn (đặc biệt có loài có 2 — 3 vách ngăn). Bào tử có nhiều hình dạng khác nhau như: hình cầu, hình gần cầu, oval, hình cầu với một đầu nhọn, hình thoi, hình quả thận, hình hạt chanh, hình liềm, hình trứng, hình trứng ngược, hình chùy (Gagkaeva, 2008).2 Điều kiện phát triển và gây hại Phân bố khắp nơi trên thé giới, nhiệt độ tối ưu cho Fusarium oxysporum phát triển là 27°C — 30°C, tối đa là 36°C — 40°C và tối thiểu là 7°C — 8°C, nhưng nhiệt độ thích hợp cho sự xâm nhiễm là 35°C (Ou, 1985).