Đặt vấn đề Xâm nhập mặn tại Việt Nam là vấn đề ngày càng trở nên cấp bách. Gây ra các vấn đề thiếu nước ngọt cung cấp cho người dân sinh hoạt, tưới tiêu và đặc biệt là sản xuất nông nghiệp. Khi bị nhiễm mặn nặng, cây sẽ bị ngộ độc, sức đề kháng kém nên dé bị các loại nam hai tan công làm cháy lá, rụng lá, héo cây, một số cây có sức chịu mặn kém sẽ chết dan (Gajera and Vakharia, 2010). Dé thích nghỉ với điều kiện đất trồng nhiễm mặn các nhà khoa học đã lai tạo và sản xuất nhiều giống có khả năng chịu mặn nhằm đảm bảo an ninh lương thực khi điều kiện mặn gia tăng.
Nhằm giải quyết vấn đề ảnh hưởng của sự nhiễm mặn lên cây trồng, các nhà khoa học trên thế giới đã và đang nghiên cứu sãn xuất ra các loại chế phẩm sinh học bằng việc bồ sung (chủng) những vi sinh vật chịu mặn có khả năng sống trong vùng rễ cây trồng đề kích thích sự phát triển của cây trồng và tăng năng suất trong điều kiện bất lợi từ tác nhân bên ngoài như xâm nhập mặn và thiếu dinh đưỡng ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây trồng (Venkateswarlu and Shanker, 2009). Một số loại vi sinh vật điển hình như một số loài thuộc chi nắm Aspergillus, Trichoderma và Penicillium (Ha, 2013; Lan, 2014; Thy va ctv, 2021). Với su phát triển của khoa học ngày nay việc ứng dụng các chế phẩm sinh học trong nông nghiệp đang càng được quan tâm vì tính đa dụng của nó. Người ta không những sản xuất ra các loại chế phâm vừa thúc đây năng suất cây trồng, không gây ô nhiễm môi trường sinh thái mà còn có khả năng kháng một số vi sinh vật gây bệnh rất tốt.
Điển hình là chủng nam thuộc chi Trichoderma: là nam dang soi linh hoat được tim thấy trong hau hết các môi trường. Chúng sống chu yếu ở vùng rễ cây, tồn tại lâu dài trong đất nhờ khả năng tự sản sinh ra bao tử và cũng là một chủng nam đang được các nha khoa học trong và ngoai nước nghiên cứu về ứng dụng của nó rất nhiều như kích thích sự phát triển của rễ nhờ tiết ra các chất điều hòa sinh trưởng (Lee và ctv, 2016), khả năng chống chịu stress phi sinh học như độ mặn, nhiệt độ và hạn hán (Shoresh và ctv, 2010), đặc biệt vào năm 2020, Zhang và Zhuang đã nghiên cứu rang Trichoderma spp. có thé phòng trị, cạnh tranh hoặc tiêu trừ các loại nam gây bệnh cho cây trồng cho cây trồng thông qua cạnh tranh dinh dưỡng và không gian sống. Đi cùng xu hướng nghiên cứu về vi sinh vật có khả năng chịu mặn và đối kháng nam bệnh, dé tài “Tuyến chọn và tối ưu hoá môi trường nuôi cấy lỏng chủng Trichoderma sp.
có khả năng chịu mặn và đối kháng với nam bệnh Rhizoctonia solania” thực hiện nhằm lựa chọn chủng Trichoderma có khả năng chịu mặn, đối kháng tốt và xây dựng công thức môi trường nuôi cay lỏng chủng nam trên đạt mật độ cao, giảm chi phí quá trình sản xuất chế phẩm sinh học dé mang lại hiệu quả kinh tế cao. Mục tiêu đề tài - Chọn được chủng nam Trichoderma có chịu mặn và đối kháng được nam bệnh Rhizoctonia solani trong điều kiện in vitro. - Tối ưu hóa môi trường nuôi cấy lỏng chủng nam Trichoderma sp. có kha năng chịu mặn và đối kháng nam bệnh Rhizoctonia solania.
Nội dung thực hiện Nộ dung 1: Khảo sát chủng nắm Trichoderma có khả năng chịu mặn Nội dung 2: Khảo sát chủng nam Trichoderma sp. có khả năng đối kháng tốt với nam bệnh Rhizoctonia solani. Nội dung 3: Tối ưu hóa môi trường nuôi cấy lỏng chủng nam Trichoderma sp. có khả năng chịu mặn và đối kháng tốt nam bệnh Rhizoctonia solani.
TONG QUAN TÀI LIEU 2. Tinh hình xâm nhập mặn hiện nay ở nước ta 2. Hiện trạng ngày nay Theo kịch bản biến đổi khí hậu mới nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường dự báo đến năm 2100, Việt Nam sẽ có nhiệt độ trung bình tăng khoảng 2 đến 3 độ C, mực nước biển trung bình có thé dâng trên Im. Các hiện tượng khí hậu cực đoan và các hậu qua của nó mang lại như: nước biên dâng, xói lở bờ biển, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn gây lũ, hạn hán, nắng nóng, rét đậm và đặc biệt xâm nhập mặn diễn biến ngày càng phức tạp và khắc nghiệt hơn, đặc biệt ở các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Xâm nhập mặn gọi là đất bị nhiễm mặn với hàm lượng nồng độ muối vượt mức cho phép do nước biển xâm nhập trực tiếp vào đất liền khi xảy ra triều cường, nước biên dâng hoặc cạn kiệt nguồn nước ngọt. Nước biển mang theo một lượng muối hòa tan và bị kết cau của đất giữ lại, tích tụ và gây mặn. Dat nhiễm mặn có chứa một lượng muối hòa tan chủ yếu là sodium chloride, sodium sulphate, calctum chloride, calcium, sulphate, magnesium chloride, magnesium sulphate, postasium chloride. Day con coi la quá trình thay thế nước ngọt trong các tang chứa nước ở ven biển bang nước mặn do có sự dich chuyền của khối nước mặn vào tầng nước ngọt.
Ngắn gọn hon thì sự xâm nhập mặn là sự tích tụ quá nhiều muối hòa tan trong đất. Ở Việt Nam nhất là đồng bằng sông Cửu Long có diễn biến mặn khá phức tạp. Đây là phần hạ lưu giáp biển của sông Mê Kông, có địa hình thấp và khá bằng phẳng với hai vùng trũng lớn là Đồng Tháp Mười và Tứ giác Long xuyên. Cùng với hai dòng sông chính là sông Tiền và sông Hậu, đồng bằng sông Cửu Long có hệ thống kênh rạch chang chit với mật độ trung bình 4 km trong 1 km2, tạo điều kiện thuận lợi cho xâm nhập mặn do thủy triều đưa nước mặn vao sâu trong sông và nội đồng, đặc biệt trong mùa cạn, khi mà lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông giảm thấp.
Độ mặn lớn nhất thường xuất hiện chủ yếu vào tháng 4 hoặc thang 5 do ảnh hưởng của thủy triều ở biển Đông, biển Tây hoặc cả hai. Ngoài ra, do lưu lượng dòng chảy từ thượng nguồn sông Mê Kông đồ về ít cũng là nhân tố chính ảnh hưởng đến tình hình xâm nhập mặn ở vùng cửa sông ven biển của đồng bằng sông Cửu Long, trong đó mực thủy triêu là nhân tô mang nước biên kèm theo độ mặn di sâu vào nội đông, trong khi lượng nước từ thượng lưu đồ về còn hạn chế. Lượng mưa giảm, lượng nước bị bốc hơi cao cũng là những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình xâm nhập mặn. Ngoài những yêu tố tự nhiên thì yếu tố con người góp phần không nhỏ gây ra xâm nhập mặn như khai thác và sử dụng nước ngầm quá mức để đáp ứng nhu cầu sản xuất, tưới tiêu và đời sống người dân ở địa phương.
Xâm nhập mặn gây ra những hậu quả hết sức nặng nề, ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt, sản xuất của cả vùng đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, cuối năm 2015 và những tháng đầu năm 2016, diễn biến xâm nhập mặn tại đồng bằng sông Cửu Long đánh giá nặng né nhất trong 100 năm qua. Từ tháng 2, độ mặn đã duy trì ở mức cao và nghiêm trọng. Trên sông Tiền và sông Hậu, độ mặn là trên 45%o, xâm nhập sâu tới 70 km tính từ cửa sông, thậm chí có nơi lên đến 85 km (trong khi theo Trung tâm phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai thì độ mặn bằng 4%o đã được coi là bị xâm nhập mặn).
Đồng bằng sông Cửu Long có vai trò vô cùng quan trọng đối với an ninh lương thực của quốc gia. Dân số và kinh tế vùng ven biển lại chiếm một vị trí trọng yếu cho quá trình phát triển của cả đồng bằng này. Do vậy, bất kỳ tác động bất lợi nào làm mắt 6n định cho vùng nay, mà điền hình hon cả là xâm nhập mặn ngay càng sâu, cần phải xem xét và kiểm soát chặt che. Ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến cây trồng Đất bị nhiễm mặn ảnh hưởng đến sinh lý cây trồng thông qua những thay đổi về tình trạng nước và trạng thái ion của tế bảo, gây phá hủy cấu trúc đất, đất bị nén chặt làm giảm tính thâm nước và thoát nước, thiếu sự thoáng khí cho vùng rễ.
Khi trồng cây trong môi trường chứa hàm lượng NaCl, cây sẽ tích lũy Na” và CI tùy theo khả năng chống chịu của chúng. Nồng độ Na" va CI trong đất tăng cao không những gây ra tình trạng thiếu nước mà còn ảnh hưởng thừa ion. Sự ức chế tăng trưởng cây trồng có thé do ảnh hưởng của Na” và Cl hạn chế sự hấp thu các ion khác và chất dinh dưỡng cần thiết cho sự sinh trưởng. Bởi vì, Na" cạnh tranh với K*, Ca”, Mg?', Fe?! và Mn?*, Cl hạn chế sự hấp thu NOs , PO,” và SO¿?.
Điều kiện khô hạn, độ âm, mực nước và độ mặn trong lớp đất bề mặt làm suy giảm chức năng rễ, làm giảm sự hấp thu chất dinh dưỡng của cây, giảm hoạt động quang hợp và tác động nhiều đến các chức năng sinh lý khác. Đây là một nguyên nhân gây ra sự lão hóa của lá là giảm hàm lượng chất diệp lục trong điều kiện mặn, làm lá bị úa vàng. Ngoài ra khi tưới nước nhiễm mặn cho cây trồng thì hàm lượng của muối hòa tan cao làm cho áp suất thâm thâu của dung dich đất lớn hơn áp suất thâm thấu của tế bao. Chính sự chênh lệch áp suất nảy làm cho hệ thống rễ cây không hút nước và dinh dưỡng được, đồng thời làm cho màng tế bào bị phá vỡ dẫn đến cây bị mắt nước, héo, trường hợp cây bị ngộ độc Na", Cl nặng sẽ gây chết cây.
Dat bị nhiễm mặn gây trở ngại đến sinh trưởng phát triển cây trồng, làm xáo trộn và mat cân đối sự hấp thu nước và chất đinh dưỡng của cây trồng, mặn gây phá hủy cấu trúc đất, đất bị nén chặt làm giảm tính thấm nước và thoát nước, thiếu sự thoáng khí cho vùng rễ và sự phát triển rễ bị giảm đi đáng kẻ. Khái quát về nam Trichoderma 2. Nguồn gốc của nam Trichoderma Trichoderma được tìm thấy khắp mọi nơi trừ ở những vĩ độ cực Nam và cực Bắc. Hầu hết các dòng Trichoderma đều hoại sinh, chúng phổ biến trong những khu rừng nhiệt đới âm hay cận nhiệt đới, ở rễ cây, trong đất hay trên xác sinh vật đã chết, hoặc thực phẩm bị chua, ngũ cốc, lá cây hay kí sinh trên những loại nấm khác.
rat it tim thấy trên thực vật sống và không sống nội kí sinh. Mỗi dòng Trichoderma khác nhau có yêu cầu nhiệt độ và độ 4m khác nhau (Gary, 2000).