Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về kế toán tiêu thụ thành phẩm Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và kết quả phân tích thực trạng về công tác tiêu thụ thành phẩm sợi tại công ty cổ phần dệt sợi Damsan Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện công tác kế toán tiêu thụ thành phẩm sợi tại công ty cổ phần dệt sợi Damsan 1.3 Mục tiêu nghiên cứu đề tài Mục tiêu nghiên cứu đề tài là nghiên cứu kế toán tiêu thụ thành phẩm góp phần hệ thống hoá và hoàn thiện lý luận kế toán tiêu thụ thành phẩm. Đồng thời nghiên cứu thực trạng của công ty nhằm phát hiện những ưu, nhược điểm trong bộ máy kế toán tiêu thụ thành phẩm tại công ty. Từ đó mạnh dạn đề xuất những biện pháp khắc phục tồn tại trong công tác kế toán giúp cho công tác kế toán tại công ty trở thành công cụ quản lý tài chính đắc lực.4 Phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Với đề tài này em chỉ tập trung nghiên cứu kế toán tiêu thụ thành phẩm sợi tại công ty cổ phần dệt sợi Damsan. Lê Thị Thanh Hải 2 SV: Phạm Thị Huê Luan van Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán - Không gian nghiên cứu: Đề tài được hoàn thành trên cơ sở nghiên cứu khảo sát tại công ty cổ phần dệt sợi Damsan + Địa chỉ: Lô A4 - Đường Bùi Viện – Khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh – TP Thái Bình.
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được nghiên cứu trong thời gian em thực tập tại công ty cổ phần dệt sợi Damsan (Từ ngày 14/02 đến 02/06/2011) - Số liệu minh hoạ cho đề tài của em được sử dụng chủ yếu trong năm 2010 và trong thời gian em thực tập tại công ty. Một số khái niệm và phân định nội dung nghiên cứu 1. Một số khái niệm và định nghĩa - Thành phẩm là những sản phẩm đã kết thúc giai đoạn chế biến cuối cùng của một quy trình công nghệ sản xuất ra sản phẩm đó của doanh nghiệp (ngoài ra còn bao gồm cả những sản phẩm thuê ngoài gia công đã hoàn thành), đã qua kiểm tra kỹ thuật và được xác nhận là phù hợp với tiêu chuẩn kỹ thuật quy định được nhập kho hoặc giao trực tiếp cho khách hàng. Thành phẩm được biểu hiện cả về mặt số lượng và mặt chất lượng + Về mặt số lượng: Thành phẩm được xác định bằng các đơn vị đo lường như con, cái, vòng, tấn, kg… + Chất lượng của thành phẩm được xác định bằng tỷ lệ tốt xấu hoặc phẩm cấp (loại 1, loại 2…).
Số lượng thành phẩm phản ánh quy mô thành phẩm của doanh nghiệp tạo ra, còn mặt chất lượng phản ánh giá trị sử dụng của thành phẩm. Thành phẩm không chỉ là thành quả lao động sáng tạo của cán bộ CNV toàn doanh nghiệp mà nó còn là vốn mà doanh nghiệp bỏ ra mua nguyên vật liệu đầu vào, máy móc, nhà xưởng…Do đó, doanh nghiệp phải tổ chức tốt khâu quản lý thành phẩm để đảm bảo an toàn, tránh lãng phí, làm cho sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao. - Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất. Đó là việc cung cấp cho khách hàng các sản phẩm, lao vụ dịch vụ do doanh nghiệp sản xuất ra, đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
Đây GVHD: TS. Lê Thị Thanh Hải 3 SV: Phạm Thị Huê Luan van Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán chính là quá trình thực hiện quan hệ trao đổi hàng - tiền giữa DN với người mua và lúc này tính hữu ích của sản phẩm sản xuất ra mới chính thức được xã hội thừa nhận, lao động của người sản xuất nói riêng và của toàn DN nói chung mới được công nhận. Khâu tiêu thụ được coi là khâu quan trọng không kém gì khâu sản xuất. Vì thông qua quá trình tiêu thụ thành phẩm.
DN thu được một khoản doanh thu bán hàng. Chỉ lúc này DN mới xác định được kết quả sản xuất kinh doanh có lãi hay không. Quá trình tiêu thụ thành phẩm có thể chia thành 2 giai đoạn: - Giai đoạn 1: Doanh nghiệp sản xuất sản phẩm giao cho khách hàng, bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để giao hàng cho người mua. Giai đoạn này phản ánh một mặt của quá trình vận động của sản phẩm nhưng chưa đảm bảo kết quả của quá trình tiêu thụ vì chưa có cơ sở đảm bảo quá trình tiêu thụ hoàn thành tốt.
- Giai đoạn 2: Khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán tiền hàng, đây là giai đoạn hoàn tất quá trình tiêu thụ. - Doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu Trong chuẩn mực kế toán số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” có các khái niệm được hiểu như sau: Doanh thu: Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của DN, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Doanh thu thuần: Là DT thực tế về bán hàng của DN trong kỳ kế toán, là cơ sở để xác định kế toán bán hàng. Chiết khấu thương mại: Là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Lê Thị Thanh Hải 4 SV: Phạm Thị Huê Luan van Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua, do người mua thanh toán tiền mua hàng trước thời hạn theo hợp đồng. Phân định nội dung nghiên cứu kế toán tiêu thụ thành phẩm 1.
Quy định kế toán tiêu thụ thành phẩm Phương pháp kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm a.Chứng từ sử dụng - Hóa đơn GTGT (MS 01 GTKT-3LL): Khi DN nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ thuế, DN sẽ cung cấp cho khách hàng hóa đơn GTGT (liên 2). Trên hóa đơn GTGT ghi rõ các chỉ tiêu: giá hàng hóa (chưa có thuế GTGT), các khoản phụ thu và phí tính thêm ngoài hàng hóa (nếu có), thuế suất thuế GTGT và số thuế GTGT, tổng giá thanh toán. - Hóa đơn bán hàng thông thường (MS02 GTGT-3LL): Khi DN thuộc đối tượng nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp trên GTGT hoặc không thuộc đối tượng chịu thuế GTGT, DN sẽ cung cấp cho khách hàng hóa đơn bán hàng hoặc hóa đơn kiêm phiếu xuất kho (liên 2). - Phiếu xuất kho (MS 02-VT) - Thẻ quầy hàng (MS 02- BH) - Giấy báo có của Ngân hàng - Phiếu thu tiền mặt (MS 01-TT) b.Tài khoản sử dụng - TK 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ TK này phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của doanh nghiệp thực hiện trong một kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh thu thực tế là doanh thu của sản phẩm, hàng hoá dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ bao gồm trường hợp thu tiền ngay và chưa thu tiền nhưng khách hàng đã chấp nhận thanh toán. TK này không có số dư. Lê Thị Thanh Hải 5 SV: Phạm Thị Huê Luan van Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán Kết cấu: Bên nợ: - Số thuế phải nộp tính trên doanh thu bán hàng thực tế và được xác định là tiêu thụ. - Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu - Kết chuyển doanh thu thuần vào TK 911 Bên có: Doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ.
- TK 512 - Doanh thu bán hàng nội bộ Dùng để phản ánh doanh thu của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong nội bộ giữa các ngành đơn vị trực thuộc trong cùng một doanh nghiệp TK này không có số dư Kết cấu: Bên nợ: Kết chuyển các khoản giảm trừ doanh thu, doanh thu thuần bán hàng nội bộ Bên có: Doanh thu bán hàng nội bộ. Không phải bán được hàng và được khách hàng chấp nhận thanh toán thì doanh thu đó là của doanh nghiệp hoàn toàn mà doanh thu đó còn chịu nhiều yếu tố làm giảm như TK 521, TK 531, TK 532 - TK 521 - Chiết khấu thương mại: Là khoản tiền doanh nghiệp giảm trừ hoặc đã thanh toán cho khách hàng do việc khách hàng thanh toán do mua một lần đạt được doanh số thoả thuận chiết khấu hoặc mua nhiều lần trong một khoảng thời gian nhất định đạt được doanh số chiết khấu ( do 2 bên thoả thuận) Riêng chiết khấu thanh toán - là số tiền người bán giảm trừ cho người mua đối với số tiền phải trả, do người mua thanh toán tiền mua sản phẩm của doanh nghiệp trước thời hạn thanh toán đã thoả thuận thì không hạch toán vào TK 521 nữa mà khi doanh nghiệp thưởng lại cho khách hàng sẽ ghi vào chi phí hoạt động tài chính - TK 635. TK 521 không có số dư. Lê Thị Thanh Hải 6 SV: Phạm Thị Huê Luan van Chuyên đề tốt nghiệp Khoa Kế toán – Kiểm toán Kết cấu: Bên nợ: Số tiền chiết khấu đã chấp nhận thanh toán cho khách hàng.
Bên có: Kết chuyển toàn bộ chiết khấu thương mại sang TK 511 để xác định doanh thu thuần của kỳ hạch toán. - TK 531 - Hàng bán bị trả lại: Là doanh số sản phẩm hàng hóa đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do doanh nghiệp vi phạm hợp đồng như hàng không đủ quy cách, kém chất lượng… TK 531 không có số dư Kết cấu: Bên nợ: Doanh số của hàng bán bị trả lại mà khách hàng đã trả lại cho doanh nghiệp hay doanh nghiệp đã trừ vào khoản nợ phải thu của khách hàng. Bên có: Kết chuyển doanh số của hàng bán bị trả lại vào TK 511 hoặc 512 để xác định doanh thu thuần của doanh nghiệp trong kỳ hạch toán. - TK 333 - Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước: phản ánh tình hình thanh toán với Nhà nước, trong đó có 2 loại thuế: * Thuế GTGT (VAT): Là phần nghĩa vụ mà doanh nghiệp phải thực hiện đối với Nhà nước về hoạt động tiêu thụ thành phẩm, hàng hóa dịch vụ.
Đây là thuế đánh trên phần giá trị tăng thêm của sản phẩm hàng hoá dịch vụ từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng trên lãnh thổ Việt Nam. Luật thuế GTGT quy định có 4 mức thuế suất là: 0%, 5%, 10%, 20% và được Bộ Tài Chính quy định cụ thể trong Thông tư hướng dẫn.