CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẦM 1.1 Bản chất và chức năng của kế toán quản trị 1.1 Khái niệm của kế toán quản trị Kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức. Các nhà quản lý dựa vào thông tin kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức (Hilton, 1991). Theo luật kế toán Việt Nam, kế toán quản trị được định nghĩa là “việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán (Luật kế toán, khoản 3, điều 4). Nói tóm lại, kế toán quản trị là một lĩnh vực kế toán được thiết kế để thoả mãn nhu cầu thông tin của các nhà quản lý và các cá nhân khác làm việc trong một tổ chức (Edmonds et al, 2003) 1.2 Bản chất của kế toán quản trị Kế toán quản trị có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động các tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả của doing nghiệp bằng các thước đo khác nhau, gắn với các quan hệ tài chính để cung cấp cho các cấp quản trị theo yêu cầu cụ thể (PGS.TS Nguyễn Ngọc Quang – Giáo trình kế toán quản trị) Kế toán quản trị là một phần cấu thành kế toán nói chung trong các tổ chức kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh Thông tin kế toán quản trị chủ yếu cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra các quyết định diều hành các hoạt động kinh doanh.
Các cấp quản trị từ Tổ trưởng sản xuất, Quản đốc phân xưởng, Trưởng các phòng ban đến Ban giám đốc và hội đồng quản trị doanh nghiệp. Thông tin kế toán quản trị thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều vì gắn với các hoạt động kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp. 5 Thông tin kế toán quản trị được cụ thể hóa thành các chức năng cơ bản của các nhà quản trị như: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, phân tích, đánh giá và ra quyết định Chức năng cơ bản của nhà quản trị đó là chức năng quyết định điều phối các hoạt động kinh doanh để tối đa hóa lợi nhuận 1.3 Chức năng của kế toán quản trị Thông tin kế toán quản trị có vai trò chủ đạovà chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của các tổ chức hoạt động. Đó là cơ sở quản trọng để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường.TS Nguyễn Ngọc Quang – Giáo trình kế toán quản trị) Mối quan hệ giữa các chức năng của các nhà quản trị thể hiện trong một chuỗi các quyết định liên tiếp: Kế hoạch: là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai hoặc tổng thể các chỉ tiêu kinh tế được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được các mục tiêu kì vọng.
Để xây dựng kế hoạch các nhà quản trị thường phải dự đoán, phán đoán kết quả các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên những cơ cở khoa học có sẵn. Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ sự tác động, nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai. Tổ chức các hoạt động: đây là chức năng cơ bản của các nhà quản trị. Chức năng này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp.
Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch đã phê duyệt. Chức năng này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau, sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định. Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụng tổng hợp các thông tin của nhiều bộ phận trong doanh nghiệp, các thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin định lượng và định tính để từ đó phán đoán và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo các kế hoạch dự toán đã xây dựng Kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện: căn cứ vào chỉ tiêu của các kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng , để kiểm tra và đánh giá tình hình thực 6 hiện kết quả của doanh nghiệp. Thông qua đó để phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo Ra quyết định: đây là chức năng cơ bản nhất của thông tin kế toán quản trị.
Dựa vào nguồn thông tin thu thập, thông qua phân tích, chọn lọc thông tin để đưa ra quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quá trình kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phí.2 Khái niệm và nội dung của kế toán quản trị chi phí, giá thành 1.1 Khái niệm Kế toán quản trị chi phí, giá thành là một chức năng quản trị có ý thức chứ không phải là một chương trình cụ thể, nó mang tính liên tục và đều đặn nhằm kiểm soát tốt chi phí, giá thành để thu lợi và tái đầu tư cho tương lai. Kế toán quản trị chi phí, giá thành là một phần của kế toán quản trị nhằm cung cấp thông tin về chi phí và giá thành để phục vụ các chức năng của nhà quản trị như lập kế hoạch, kiểm tra, ra quyết định. Kế toán quản trị chi phí và giá thành không những cung cấp các thông tin trong quá khứ mà còn cung cấp các thông tin trong tương lai thông qua các bảng dự toán trên cơ sở các định mức chi phí nhằm kiểm soát tình hình chi phí và giá thành thực tế giúp nhà quản trị đưa ra các quyết định đúng cho kế hoạch sản xuất của kỳ kế tiếp.2 Ý nghĩa của kế toán quản trị chi phí, giá thành Chi phí và giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch vụ là các chỉ tiêu quan trọng trong hệ thống các chỉ tiêu kinh tế phục vụ cho công tác quản lý doanh nghiệp và có mối quan hệ mật thiết với doanh thu, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy đây là chỉ tiêu rất được các nhà quản lý doanh nghiệp quan tâm.
Mục đích sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn là lợi nhuận tối đa. Vì thế họ quan tâm đến công tác quản lý chi phí, giá thành để xem phải bỏ ra những chi phí nào, mức độ bao nhiêu và kết quả sản xuất thu được là gì?. Song nếu chỉ biết một cách tổng thể, khái quát như vậy thì chưa đủ để đảm bảo một quá trình sản xuất kinh doanh hiệu quả. Một trong những yêu cầu của quản lý doanh nghiệp là phải chi tiết hoá các nội dung về chi phí, giá thành đối với từng loại hoạt động, từng loại sản phẩm, dịch vụ do vậy khi bước vào nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp đã tiến hành đa 7 dạng hoá các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Doanh nghiệp có thể tiến hành nhiều loại hoạt động khác nhau trên cơ sở ngành nghề, giấy phép kinh doanh đã được cấp: vừa sản xuất tiêu thụ sản phẩm, vừa mua - bán vật tư, hàng hoá… Trong mỗi hoạt động lại bao gồm nhiều sản phẩm, vật tư, hàng hoá, dịch vụ khác nhau. Một câu hỏi đặt ra là phải làm thế nào để có thể quản lý hiệu quả các hoạt động đó và kiểm soát các khoản mục phát sinh một cách tốt nhất? Câu hỏi này chỉ được trả lời khi có sự tham gia của kế toán quản trị chi phí, giá thành, doanh thu và kết quả. Do vậy, kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm, lao vụ, dịch cụ là nội dung không thể thiếu được trong toàn bộ nội dung tổ chức công tác kế toán của doanh nghiệp và nó có vai trò thi ết thực đối với các nhà quản trị doanh nghiệp bởi một số lý do chủ yếu sau: Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp có thông tin hữu ích về chi phí, giá thành của từng hoạt động, sản phẩm, lao vụ, dịch vụ. Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp doanh nghiệp đưa ra được các quyết định phù hợp cho việc mở rộng hoặc thu hẹp quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh.
Điều này có ý nghĩa quan trọng quyết định sự tồn tại và phát tri ển của doanh nghiệp Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp quyết định ngừng hay tiếp tục sản xuất kinh doanh cũng như các quyết định nên tự sản xuất hay nên đi mua hoặc chuyển hướng kinh doanh, đầu tư… Giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp định được giá bán sản phẩm dịch vụ, hàng tồn kho…từ đó có chính sách giá cả hợp lý. Có thể nhận thấy những thông tin mà kế toán quản trị chi phí, giá thành sản phẩm, dịch vụ, lao vụ cung cấp là những thông tin cần thiết, nhanh chóng, kịp thời giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đề ra được các quyết định phù hợp với tình hình thực tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận trong kỳ. Tuy nhiên cũng cần phải khẳng định một điều rằng kế toán quản trị chi phí, giá thành là công việc hết sức phức tạp, đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và chỉ khi nào doanh nghiệp thực hiện tốt, đầy đủ các nội dung liên quan thì kế toán quản trị chi phí, giá thành mới có thể phát huy được hết vai trò to lớn của nó.3 Chi phí và phân loại chi phí 1.1 Khái niệm chi phí Sản xuất của cải vật chất là hoạt động cơ bản của xã hội loài người, là điều kiện tiên quyết tất yếu của sự tồn tại và phát triển. Trong nền kinh tế thị trường hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thực chất là việc sản xuất ra các sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường và thu về lợi nhuận.
Đó là quá trình mà mỗi doanh nghiệp bỏ ra những chi phí nhất định để tạo ra sản phẩm. Chính vì vậy, trong thực tế có nhiều cách định nghĩa về chi phí cụ thể như: Theo Huỳnh Lợi (Kế toán chi phí, 2010) đã định nghĩa rằng chi phí sản xuất kinh doanh là toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hoá được biểu hiện bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một kỳ nhất định (tháng, quý, năm).