Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận về kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp Chương 3: Thực trạng kế toán doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần Logistics U&I Miền Bắc Chương 4: Thảo luận kết quả nghiên cứu, các giải pháp và kết luận” 4 2CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU, CHI PHÍ VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 2. Một số vấn đề cơ bản về doanh thu, chi phí và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp 2. Khái niệm và phân loại doanh thu 2.
Khái niệm Theo chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế số 15 (IFRS 15): “Doanh thu là tổng các lợi ích kinh tế trong kỳ, phát sinh trong quá trình hoạt động thông thường, làm nguồn vốn chủ sở hữu, chứ không phải phần đóng góp của những người tham gia góp vốn cổ phần. Doanh thu không bao gồm những khoản thu cho bên thứ ba”. Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 (VAS 14 – Doanh thu và thu nhập khác) ban hành theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của BTC: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”. Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014: “Doanh thu là lợi ích kinh tế thu được làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp ngoại trừ phần đóng góp thêm của các cổ đông.
Doanh thu được ghi nhận tại thời điểm giao dịch phát sinh, khi chắc chắn thu được lợi ích kinh tế, được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản được quyền nhận, không phân biệt đã thu tiền hay sẽ thu được tiền”. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về doanh thu, nhưng bản chất của nó có thể được hiểu là khoản thu từ HĐKD, cơ sở tạo ra KQKD trong kỳ của DN. Điều quan trọng cần khẳng định là không phải mọi nghiệp vụ kinh tế làm tăng tài sản đều phát sinh doanh thu, và không phải chỉ có sự phát sinh doanh thu mới làm thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu. Doanh thu chỉ là một trong những nghiệp vụ kinh tế phát sinh có thể làm tăng tài sản và thay đổi vốn chủ sở hữu.
Phân loại doanh thu Trong quá trình hoạt động và phát triển, có rất nhiều khoản doanh thu và thu nhập của DN phát sinh nghiệp vụ kinh tế trong kỳ. Thông qua nhiều tiêu thức như cơ sở thông tin, vị trí địa lý, đơn vị tiền tệ,.mà doanh thu được chia thành nhiều loại khác nhau (Đặng Thị Loan & các cộng sự, 2015): 5 *Phân loại theo mối quan hệ với hệ thống tổ chức kinh doanh: Doanh thu bán hàng nội bộ: Là doanh thu của khối lượng bán hàng trong nội bộ hệ thống tổ chức của DN như tiêu thụ nội bộ giữa các đơn vị trực thuộc trong tổng Công ty…. Doanh thu bán hàng ra ngoài: Là toàn bộ doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa DN đã bán ra cho khách hàng ngoài phạm vi DN. Việc phân loại này sẽ giúp DN xác định được chính xác kết quả kinh doanh của DN, cung cấp thông tin chính xác cho công tác lập BCTC hợp nhất mang tính tập đoàn, toàn ngành… *Phân loại theo khu vực địa lý: Doanh thu nội địa: Là các khoản thu được từ việc bán hàng hóa và cung cấp dịch vụ trong nước.
Doanh thu bán hàng quốc tế: Là nguồn thu được từ nghiệp vụ kinh tế phát sinh BH&CCDV tại nước ngoài. Việc phân loại này giúp bộ phận QLDN xác định được theo khu vực địa lý thì mức độ hoạt động như thế nào. Từ đó lấy căn cứ để đánh giá mức sinh lợi cũng như rủi ro trong kinh doanh khu vực. *Phân loại theo nguồn hình thành: Doanh thu BH&CCDV: Là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng, bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
Doanh thu hoạt động tài chính: Là khoản thu từ hoạt động liên quan đến kinh doanh về vốn, hoạt động gửi tiền của doanh nghiệp như các nghiệp vụ đầu tư tài chính ngắn hạn, dài hạn, đầu tư chứng khoán, đầu tư góp vốn liên doanh, cho vay,. Thu nhập khác: Là khoản thu từ những nghiệp vụ không phát sinh một cách thường xuyên trong DN như các nghiệp vụ bồi thường, tiền phạt vi phạm hợp đồng, thanh lý, nhượng bán TSCĐ… Ngoài ra, doanh thu có thể được phân chia theo hình thức tiêu thụ, loại sản phẩm tiêu thụ, số lượng tiêu thụ, và địa điểm tiêu thụ,…tuỳ thuộc vào đặc điểm SXKD của từng DN. 6 * Các khoản giảm trừ doanh thu bao gồm: Chiết khấu thương mại: Là khoản CKTM mà DN giảm trừ, hoặc đã thanh toán cho người mua hàng do việc người mua hàng đã mua sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ với khối lượng lớn và theo thỏa thuận bên bán sẽ dành cho bên mua một khoản CKTM (đã ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các cam kết mua, bán hàng). Hàng bán bị trả lại: Là giá trị số sản phẩm, hàng hóa bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như vi phạm cam kết, vi phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy cách.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm giá hàng bán thực tế phát sinh, là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hóa kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định hợp đồng kinh tế. Khái niệm và phân loại chi phí 2. Khái niệm Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 (VAS 01 – Chuẩn mực chung): “Chi phí là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản phân phối cho cổ đông hoặc chủ sở hữu” Tuỳ vào góc độ nhìn nhận nên quá trình nghiên cứu và nhận thức chi phí khác nhau: Trên góc độ KTTC, chi phí được coi là các khoản đã phát sinh liên quan đến hoạt động của DN, bao gồm chi phí phát sinh trong quá trình SXKD thông thường và các chi phí khác. Chi phí được định lượng bằng số tiền hoặc giá trị tương đương mà DN đã chi ra.
Đây là những khoản chi góp phần làm giảm vốn chủ sở hữu của DN, nhưng không phải là phân chia vốn hoặc hoàn trả vốn cho cổ đông. Do đó, chi phí được liên kết với tài sản và vốn chủ sở hữu của DN, và được ghi nhận trong hệ thống kế toán dựa trên các chứng từ, tài liệu, và bằng chứng minh việc phát sinh của chúng. Trên góc độ kế toán quản trị, chi phí được nhìn nhận thông qua quá trình thu thập thông tin và ra quyết định. Chi phí có thể là các khoản phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động SXKD hàng ngày khi tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định.
Ngoài ra, chi phí cũng có thể là các khoản phí tổn ước tính để thực hiện dự án, chi phí mất đi khi lựa chọn một phương án hoặc bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. 7 Có thể thấy rằng, dù nhìn nhận dựa trên góc độ kế toán nào thì đối với các nhà quản lý trong DN nói chung, tất cả các thông tin về chi phí là những thông tin quan trọng vì lợi nhuận của DN sẽ bị ảnh hưởng trực tiếp bởi việc chi phí thay đổi. Chính vì vậy, trong DN các nhà quản lý cần phải kiểm soát chặt chẽ chi phí để có thể đạt được mức lợi nhuận theo như kế hoạch đã đặt ra. *Điều kiện ghi nhận chi phí Theo thông tư 200/2014/TT-BTC ban hành ngày 22/12/2014: “Doanh thu và chi phí tạo ra khoản doanh thu đó phải được ghi nhận đồng thời theo nguyên tắc phù hợp” Để phù hợp, việc ghi nhận doanh thu và chi phí phải đi đôi với nhau.
Khi ghi nhận một khoản doanh thu, cần đồng thời ghi nhận một khoản chi phí tương ứng liên quan đến việc tạo ra doanh thu đó. Chi phí tương ứng với doanh thu bao gồm chi phí phát sinh trong kỳ để tạo ra doanh thu đó và chi phí phải trả từ các kỳ trước mà liên quan đến doanh thu của kỳ đó. Có thể thấy rằng, nguyên tắc phù hợp ảnh hưởng đến KQKD thể hiện sự phản ánh đúng KQKD. Do đó, trong kỳ chi phí đã được ghi nhận là toàn bộ các khoản chi phí liên quan đến việc tạo ra doanh thu và thu nhập của kỳ đó không phụ thuộc khoản chi phí đó được tạo ra trong kỳ nào.
Phân loại chi phí Trong các DN, chi phí rất đa dạng và phức tạp, một số chi phí chỉ liên quan đến một đối tượng cụ thể, trong khi những chi phí khác lại phát sinh từ nhiều đối tượng khác nhau. Để quản lý, theo dõi và phân tích hiệu quả, cần nhóm các chi phí thành từng nhóm tương ứng. Tùy vào mục đích cung cấp thông tin, kế toán lựa chọn các tiêu chí để phân loại chi phí theo từng nhóm phù hợp. Ví dụ, trong một DN, các loại chi phí có thể được phân loại như sau: (Đặng Thị Loan & các cộng sự, 2015): *Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động trong doanh nghiệp Giá vốn hàng bán: là trị giá vốn của hàng hóa đã tiêu thụ trong kỳ.
Bao gồm chi phí của tất cả các mặt hàng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc mua hàng hóa/dịch vụ đã được bán. Chi phí bán hàng: là toàn bộ các khoản chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, cung cấp dịch vụ bao gồm các chi phí chào hàng, giới thiệu hàng hóa, hoa hồng bán hàng, bảo hành hàng hóa, chi phí bảo quản, đóng gói, vận hành… Chi phí quản lý doanh nghiệp: là toàn bộ chi phí liên quan đến hoạt động quản lý kinh doanh, quản lý hành chính, quản lý điều hành chung của toàn bộ DN.