CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển kế toán quản trị 1.1 Trên thế giới Kế toán quản trị xuất hiện đầu tiên tại nước Mỹ vào những năm đầu của thế kỷ XIX. Sự phát triển mạnh cả về quy mô và phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp trong giai đoạn này đặt ra yêu cầu cho các người quản lý phải kiểm soát và đánh giá được hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tiên áp dụng KTQT đầu tiên của nước Mỹ phải kể đến đó là Công Ty Dệt Lyman Mills. Khi đó, KTQT được áp dụng để xác định mục tiêu hiệu quả sản xuất của các sản phẩm và đánh giá được kết quả hoạt động của các bộ phận.
Công ty này đã áp dụng hệ thống kế toán theo dõi tình hình sử dụng vật tư, chi phí nhân công và các chi phí trực tiếp phát sinh hằng ngày để báo cáo kết quả của quá trình sản xuất. Tiếp đến là Công ty Louisville & Nashville hoạt động trong lĩnh vực đường sắt đã áp dụng KTQT vào năm 1840. Khi mà phạm vi hoạt động của Công ty mở rộng và vấn đề kiểm soát, xử lý công việc ngày càng phức tạp, Công ty đã thiết lập báo cáo quản trị quản lý kiểm soát thu – chi trên địa bàn rộng lớn bằng cách chia kế toán thành hai bộ phận theo dõi chi phí và thu thập theo từng khu vực. Trên cơ sở ghi nhận và báo cáo chi phí Mrs.
Albert Fink – Phó chủ tịch công ty là người đầu tiên tính toán được chi phí vận chuyển trọng lượng một tấn trên một kilomet vào cuối thập niên 60 của thế kỷ XIX. KTQT cũng đã được ứng dụng trong ngành luyện kim trong gian đoạn này. Andrew Carnegie là một doanh nhân lớn của thế kỷ XIX đã áp dụng KTQT để quản lý DN của mình từ năm 1872. Dựa trên ý tưởng sử dụng chi phí như nhau thì phải tạo ra được lợi nhuận bằng nhau, Mrs.
Andrew Carnegie đã chia nhỏ DN thành nhiều các bộ phận để theo dõi và ghi nhận hạch toán. Sử dụng các báo cáo về vật tư sử dụng, nhân công ở từng bộ phận để kiểm soát và đánh giá hiệu quả hoạt động. Với cách làm này Mrs. Andrew Carnegie đã giảm được chi phí sản xuất, đưa ra mức giá bán hợp lý canh tranh với các đối thủ.
7 Không chỉ ngành đường sắt, luyện kim, KTQT trong giai đoạn này còn được áp dụng cả trong các ngành dầu khí, hóa chất và cơ khí chế tạo. Tuy nhiên trong giai đoạn này các nhà quản trị mới chỉ đang dừng lại tại việc kiểm soát được chi phí sản xuất trực tiếp. Các chi phí chung, và chi phí sử dụng TSCĐ đang bị bỏ qua. KTQT qua các giai đoạn phát triển được đã dần hoàn thiện được thể hiện qua nội dung bảng tổng hợp sau: BẢNG 1.1: CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN CỦA KẾ TOÁN QUẢN TRỊ Giai đoạn Vị trí của KTQT Nội dung KTQT Các kỹ thuật KTQT phát triển trong tổ chức Chi phí: xác định Dự toán và kế toán chi Hoạt động mang Trước những chi phí và kiểm soát phí.
tính chuyên môn năm 1950 tài chính. Lợi nhuận: cung cấp Phân tích quyết định và Chức năng tham Từ năm 1950 thông tin cho hoạch kế toán trách nhiệm. mưu, báo cáo cho – 1965 định và kiểm soát. Cắt giảm hao phí: Phân tích quá trình và Hoạt động nhóm.
tiết kiệm chi phí quản trị chi phí đương đại. Từ năm 1965 thông qua việc quản – 1985 trị chi phí chiếm lược. Quản trị nguồn lực Phân tích các yếu tố giá Là một phần của và tạo ra giá trị: tạo trị khách hàng, giá trị cổ quá trình quản trị. ra giá trị thông qua đông và cải cách tổ chức.
Từ 1985 – quản trị nguồn lực 1995 chiếm lược, sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Quản trị nguồn lực Phân tích quy trình giá trị KTQT đi vào các tổ Từ năm 2000 một cách chiếm các bên liên quan, quản lý chức hành chính sự Đến nay lược. rủi ro và báo cáo phát nghiệp. triển bền vững.2 Ở Việt Nam Giai đoạn từ năm 1945 trở về trước: Thời kỳ phong kiến, kế toán ở Việt Nam đơn giản là việc ghi chép mang tính liệt kê, nhằm mục đích phục vụ cho người sở hữu nắm được tình hình tài sản của mình.
Khi thực dân Pháp xâm chiếm Việt Nam, xây dựng các nhà máy, đồn điền phục vụ cho chính sách bóc lột, đồng thời có sử dụng kế toán. Nghành kế toán qua đó được du nhập vào Việt Nam. Tuy nhiên, kế toán ở Việt Nam thời kỳ đó vẫn chưa phát triển. Giai đoạn 1954-1975: sau khi mà đánh thắng thực dân Pháp xâm lược và bị nước Mỹ xâm chiếm miền Nam Việt Nam.
Trong bối cảnh này sự phát triển kế toán Việt Nam chịu sự ảnh hưởng, Miền bắc áp dụng hệ thống kế toán của Liên Xô và miền Nam áp dụng hệ thống kế toán Mỹ. Giai đoạn 1976 – 1994: Sau khi thông nhất đất nước, Việt Nam thống nhất đi lên xây dựng Chủ nghĩa xã hội. Hệ thống kế toán áp dụng ở Việt Nam trong thời kỳ này là hệ thống kế toán của Liên Xô trong cơ chế hoạch toán tập trung. Tuy nhiên, trong thời kỳ này, kế toán chỉ là công cụ phản ánh tình hình hoạt động hoàn thành kế hoạch Nhà nước giao.
Giai đoạn 1995 đến nay: đây là thời kỳ đổi mới, mở cửa nền kinh tế của đất nước. Trong giai đoạn này, kế toán có một bước ngoặt thay đổi. Trước tiên về vai trò và vị trí, phát triển của kinh tế thị trường đặt ra những yêu cầu về việc cung cấp thông tin kế toán một cách kịp thời đưa kế toán lên vị trí quan trọng trong hệ thống tài chính doanh nghiệp. Kế toán ngày nay trước hết là công cụ quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh của chủ doanh nghiệp, thông tin kế toán là cơ sở cho các quyết định kinh tế, Nhà nước dựa vào để thực hiện các chức năng quản lý.
Đồng thời, trong giai đoạn này, hoạt động kế toán kiểm toán phát triển thành một nghề nghiệp độc lập được xã hội thừa nhận thông qua sự ra đời và phát triển của ba hệ thống lớn là Kiểm toán Nhà nước, Kiểm toán độc lập, Kiểm toán nội bộ, thành lập Hội kế toán Việt Nam. Hệ thống khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán đó và đang được từng bước hoàn thiện và tiếp cận với các thông lệ quốc tế thể hiện ở việc ban hành Luật kế toán năm 2003, đây được xem như là một bước ngoặt tiến bộ, kế tiếp ban hành 9 các chuẩn mực kiểm toán và kế toán, chế độ kế toán doanh nghiệp, kế toán hành chính sự nghiệp,… Ngày 12/06/2006, Bộ tài chính ban hành thông tư 53/2006/TT-BTC về việc hướng dẫn áp dụng KTQT trong doanh nghiệp. Sự kiện này đã tạo nên sự thống nhất về nội dung, phương pháp thực hiện KTQT tại Việt Nam. Hiện nay, KTQT trở thành công cụ quản lý không thể thiếu và ngày càng trở nên phổ biến trong các doanh nghiệp nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh.2 Khái niệm về kế toán quản trị Ở thế giới các khái niệm về kế toán quản trị được nêu như sau: Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán Mỹ tháng 3/1981: “Kế toán quản trị là quá trình cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp trong việc lập và thực hiện kế hoạch, trong việc kiểm soát, điều hành các hoạt động của doanh nghiệp.
Quy trình kế toán quản trị bao gồm các công việc xác định, cân, đong, đo, đếm, thu thập, tích lũy, phân tích, chuẩn bị thông tin, giải thích và cung cấp thông tin cho các nhà quản lý để các nhà quản lý xử lý các thông tin này theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp”. Theo tác giả cuốn “Advanced Management Accounting” năm 1998, Ông Robert S.Kaplan và Anthony A.Atkinson, kế toán quản trị được định nghĩa: “Hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những người quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ”. Theo từ điển thuật ngữ Kế toán Mỹ thì: “Kế toán quản trị là một lĩnh vực của kế toán liên quan đến định lượng các thông tin kinh tế và hỗ trợ những nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định tài chính, đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch và quản lý giá thành”. Tại Việt Nam các khái niệm về Kế toán quản trị được nêu như sau: Theo Luật kế toán Việt Nam luật số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003, tại Khoản 3, Điều 4: “KTQT là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán”.
Theo Nguyễn Ngọc Quang (2014): “KTQT là môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn 10 vị cụ thể. Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu”. Theo các khái niệm trên, ngoài việc nhấn mạnh vai trò của kế toán quản trị là thông tin hữu ích phụ vụ cho các cấp quản lý khi đưa ra các quyết định còn nêu ra được quy trình nhận biết thông tin kế toán trong tổ chức hoạt động. Có rất nhiều khái niệm về KTQT song có những điểm giống nhau cơ bản: - KTQT là một bộ phận cấu thành trong hệ thống kế toán của các tổ chức hoạt động.
- KTQT là công cụ không thể thiếu được trong các doanh nghiệp kinh doanh theo cơ chế thị trường vì nó là cơ sở khoa học để đưa ra mọi quyết định kinh doanh. - Thông tin kế toán quản trị trong các tổ chức hoạt động giúp cho nhà quản trị thực hiện chức năng quản trị doanh nghiệp: Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định. Từ những khái niệm và phân tích trên có thể hiểu và đưa kết luận như sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể. Các thông tin này giúp cho các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định.
Tối ưu hóa các mục tiêu ngắn hạn dài hạn đặt ra.