Chương I: Tổng quan nghiên cứu kế toán CPSX sản phẩm cọc bê tông tại công ty cổ phần cơ khí vận tải 1/5. Chương II: Tóm lược một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán CPSX trong DNSX. Chương III: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán CPSX sản phẩm cọc bê tông tại công ty cổ phần cơ khí vận tải 1/5. Chương IV: Kết luận và các giải pháp hoàn thiện kế toán CPSX sản phẩm tại công ty cổ phần cơ khí vận tải 1/5.
SV: Hoàng Thị Thanh Hoa Lớp : K42D3 Luan van Luận văn tốt nghiệp 4 Khoa kế toán - Kiểm toán CHƯƠNG II : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT SẢN PHẨM TRONG CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 2.1-Một số định nghĩa, khái niệm cơ bản 2.1-Khái niệm chi phí sản xuất. Bất kỳ một doanh ngiệp nào, để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải có đủ ba yếu tố cơ bản đó là: Tư liệu lao động, đối tượng lao động và sức lao động. Quá trình sản xuất là quá trình kết hợp ba yếu tố đó để tạo ra các loại sản phẩm dịch vụ. Sự tiêu hao các yếu tố này trong quá trình sản xuất kinh doanh đã tạo ra các chi phí tương ứng, đó là các chi phí về tư liệu lao động, chi phí về đối tượng lao động và chi phí về lao động sống.
Trên phương diện này, chi phí được xác định là tổng giá trị các khoản làm giảm lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, dưới hình thức các khoản tiền chi ra, các khoản khấu trừ tài sản hoặc phát sinh các khoản nợ dẫn đến làm giảm vốn chủ sở hữu.(Theo chuẩn mực kế toán số 01) Trong quá trình sản xuất kinh doanh, ngoài các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá doanh nghiệp còn phải bỏ ra rất nhiều các khoản chi phí khác. Do vậy, chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền toàn bộ các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.(Theo GT KTTC- HVTC- Chủ biên GS.TS Ngô Thế Chi, TS. Trương Thị Thuỷ- NXBTC- 2008) Tóm lại, chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của các khoản hao phí về lao động sống, lao động vật hoá và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.2- Phân loại chi phí sản xuất. SV: Hoàng Thị Thanh Hoa Lớp : K42D3 Luan van Luận văn tốt nghiệp 5 Khoa kế toán - Kiểm toán CPSX của doanh nghiệp bao gồm nhiều loại, nhiều thứ khác nhau.
Để thuận tiện cho công tác quản lý, hạch toán, kiểm tra chi phí cũng như phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh, CPSX cần phải được phân loại theo những tiêu thức phù hợp. Trong kế toán tài chính, CPSX thường được phân loại, nhận diện theo những tiêu thức sau: 2.1-Phân loại CPSX theo nội dung và tính chất của chi phí. Theo cách phân loại này người ta sắp xếp các chi phí có cùng nội dung và tính chất kinh tế vào một loại gọi là yếu tố chi phí, mà không phân biệt chi phí đó phát sinh ở đâu và có tác dụng như thế nào. Cách phân loại này được gọi là phân loại chi phí theo yếu tố.
Theo chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam khi quản lý và hạch toán CPSX các doanh nghiệp phải theo dõi được chi phí theo năm yếu tố sau: - Chi phí nguyên liệu, vật liệu: Yếu tố chi phí NVL bao gồm giá mua, chi phí mua của NVL dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ. Yếu tố này bao gồm: CPNVL chính, CPNVL phụ, chi phí nhiên liệu, chi phí phụ tùng thay thế và CPNVL khác. Sự nhận biết yếu tố CPNVL giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tổng trị giá NVL cần thiết cho nhu cầu sản xuất kinh doanh trong kỳ. Trên cơ sở đó các nhà quản trị sẽ hoạch định tổng mức luân chuyển, dự trữ cần thiết của NVL một cách hợp lý, có hiệu quả.
Mặt khác, đây cũng là cơ sở để hoạch định các mặt hàng thiết yếu để chủ động trong công tác cung ứng vật tư. - Chi phí nhân công: Yếu tố chi phí nhân công là các khoản chi phí tiền lương phải trả cho người lao động, các khoản trích bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn theo tiền lương của người lao động. Sự nhận biết yếu tố chi phí nhân công giúp nhà quản trị doanh nghiệp xác định được tổng quỹ lương của doanh nghiệp. Xác định được tổng quỹ lương SV: Hoàng Thị Thanh Hoa Lớp : K42D3 Luan van Luận văn tốt nghiệp 6 Khoa kế toán - Kiểm toán của doanh nghiệp, từ đó hoạch định mức tiền lương bình quân cho người lao động.
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao của tất cả các TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Việc nhận biết được yếu tố chi phí khấu hao TSCĐ giúp cho các nhà quản trị nhận biết được mức chuyển dịch, hao mòn tài sản, từ đây hoạch định tốt hơn chiến lược đầu tư, đầu tư mở rộng để đảm bảo cơ sở vật chất thích hợp cho tiến trình sản xuất kinh doanh. - Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Việc hiểu rõ yếu tố chi phí này giúp cho các nhà quản trị hiểu rõ hơn tổng mức dịch vụ có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp để thiết lập quan hệ trao đổi, cung ứng với các đơn vị tốt hơn.
- Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi bằng tiền phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên. Việc nhận biết yếu tố chi phí này góp phần giúp nhà quản trị định được lượng tiền mặt chỉ tiêu, hạn chế tồn đọng tiền mặt. Ngoài ra tuỳ theo đặc điểm sản xuất, yêu cầu và trình độ quản lý của các doanh nghiệp có thể phân chia CPSX thành các yếu tố chi tiết và cụ thể hơn. Cách phân loại chi phí theo yếu tố giữ được tính nguyên vẹn của từng yếu tố chi phí cũng như từng khoản mục chi phí trong mỗi yếu tố đó, có tác dụng cho biết nội dung, kết cấu, tỷ trọng từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã sử dụng vào quá trình sản xuất trong tổng CPSX của doanh nghiệp.
Số liệu CPSX theo yếu tố là cơ sở để xây dựng các dự toán CPSX, xác định nhu cầu về vốn của doanh nghiệp, xây dựng các kế hoạch về lao động, vật tư, tài sản. trong doanh nghiệp. Nó còn là cơ sở để phân tích tình hình thực hiện dự toán SV: Hoàng Thị Thanh Hoa Lớp : K42D3 Luan van Luận văn tốt nghiệp 7 Khoa kế toán - Kiểm toán CPSX, cung cấp số liệu để lập thuyết minh báo cáo tài chính (phần CPSX, kinh doanh theo yếu tố), từ đó để tính và tổng hợp thu nhập quốc dân.2- Phân loại CPSX theo mối quan hệ với mức độ hoạt động. Cách phân loại này dựa vào sự "ứng xử" của chi phí với sự thay đổi của mức độ hoạt động.
"Ứng xử" của chi phí có nghĩa là các chi phí sẽ tăng giảm như thế nào đối với những thay đổi của mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh. Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động sẽ giúp nhà quản lý nhận biết được "ứng xử" của từng loại chi phí với thay đổi của mức độ hoạt động, phục vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí. Theo tiêu thức này, chi phí được phân thành ba loại: - Biến phí: Là những chi phí thay đổi về tổng số, tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động. Mức độ hoạt động căn cứ được xem như một nhân tố nguyên nhân trong quá trình phát sinh biến phí.
Tổng số biến phí thay đổi tỷ lệ với sự thay đổi của mức độ hoạt động căn cứ nhưng biến phí tính trên một đơn vị mức độ hoạt động thì không đổi. - Định phí: Là những khoản chi phi không thay đổi về tổng số khi mức độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp. Phạm vi phù hợp là khoảng cách giữa mức độ hoạt động tối thiểu và mức độ hoạt động tối đa mà doanh nghiệp có thể thực hiện với năng lực hoạt động hiện có. Xét về tổng chi phí, định phí không thay đổi nhưng nếu xem xét chúng trên một đơn vị mức độ hoạt động, định phí tỷ lệ nghịch với mức độ hoạt động.
Như vậy định phí sẽ luôn luôn tồn tại cho dù doanh nghiệp có hay không có hoạt động và khi mức độ hoạt động của doanh nghiệp gia tăng thì định phí tính cho một đơn vị sản phẩm sẽ giảm đi. Khi hoạt động của doanh SV: Hoàng Thị Thanh Hoa Lớp : K42D3 Luan van Luận văn tốt nghiệp 8 Khoa kế toán - Kiểm toán nghiệp đạt công suất tối đa thì định phí tính cho một đơn vị mức độ hoạt động sẽ là thấp nhất. - Chi phí hỗn hợp: Là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí. Ở một mức độ hoạt động nào đó, chi phí hỗn hợp thể hiện đặc điểm của định phí và ở các mức độ khác nhau của hoạt động chúng lại thể hiện đặc điểm của biến phí.3- Phân loại CPSX theo mối quan hệ với đối tượng chịu chi phí.
- Chi phí trực tiếp: Là những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí. VD: CPNVLTT, CPNCTT - Chi phí gián tiếp: Là những chi phí phát sinh không liên quan trực tiếp đến đối tượng chịu chi phí.4- Phân loại CPSX theo mối quan hệ với các khoản mục tính giá thành. - Chi phí NVLTT: là toàn bộ chi phí nguyên liệu chính, vật liệu phụ, vật liệu khác được sử dụng trực tiếp trong quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ. - Chi phí NCTT: là các khoản chi phí phải trả cho công nhân trực tiếp sản xuất sản phẩm như tiền lương, các khoản phụ cấp, các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp sản xuất như: BHXH, BHYT, KPCĐ.
- Chi phí SXC: Là các khoản CPSX liên quan đến việc phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất.