Phần mở đầu Chương 2: Cơ sở lý thuyết về Kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp. Chương 3: Thực trạng về kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty cô phần ESITIC. Chương 4: Đề xuất giải pháp CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYÉT VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KÉT QUÁ KINH DOANH TẠI CÁC DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI 2. Khái quát chung về bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong DN 2.
Khát niệm bán hàng và các phương thức bản hàng 2. Khái niệm bản hàng - Bán hàng là việc chuyên quyền sở hữu sản phẩm, hàng hóa gắn với phần lớn lợi ích hoặc rủi ro cho khách hàng đồng thời được khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Bán hàng là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất — kinh doanh, đây là quá trình chuyên hóa vốn từ hình thái vốn sản phẩm, hàng hóa sang hình thái vốn tiền tệ hoặc vốn trong thanh toán. - Xét góc độ về kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh nghiệp được chuyên từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).
- Quá trình bán hang ờ các doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm chính sau đây: + Có sự trao đôi thỏa thuận giũa người mua và người bán, người bán đồng ý bán, người mua đông ý mua, họ trả tiên hoặc châp nhận trả tiên. + Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hóa: người bán mat quyền sở hữu, người mua có quyền sở hữu về hàng hóa đã mua bán. Trong quá trình tiêu thụ hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lượng hàng hóa và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng, số đoanh thu này là cơ sở dé doanh nghiệp xác định kết quả kinh doanh của minh. Các phương thức bán hàng Trong bán hang các doanh nghiệp có nhiều cách khác nhau dé phân phối sản phẩm, hàng hóa đến người tiêu dùng.
Nhưng chung quy lại, doanh nghiệp có 2 cách có thể đưa hàng hóa vào trong lưu thông, đó là bán buôn và bán lẻ. Trong đó: Bán buôn: Đặc điểm của bán buôn là hàng vẫn còn năm trong khâu lưu thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng. Trong bán buôn thường bao gồm 2 phương thức: - Phương thức bán buôn hàng hóa qua kho: là phương thức bán buôn mà trong đó hàng mua về được nhập kho, sau đó được xuất từ kho của doanh nghiệp cho người mua buôn dưới hai hình thức: + Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp đề nhận hàng. + Bán buôn qua kho theo hình thức chuyền hàng: theo hình thức này, bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế hoặc đơn đặt hàng, vận chuyên hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy định trong hợp đồng.
- Phương thức bán buôn vận chuyên thắng: là phương thức bán buôn hàng hóa, theo đó, doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua không đưa về nhập kho mà chuyền bán thăng cho bên mua. Phương thức này có thé được thực hiện qua hai hình thức: + Hình thức giao hàng trực tiếp (giao tay ba): theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi nhận hàng từ nhà cung cấp thì bán trực tiếp cho khách hàng của mình. + Hình thức chuyển hàng: theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi mua hàng, nhận hàng mua, chở hàng giao cho bên mua ở địa điểm đã được thỏa thuận. Bán lẻ là hình thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng.
Đặc điểm của phương thức bán lẻ là hàng hóa đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi vào tiêu dùng. Gia tri và giá trị sử dụng của hàng hóa đã được thực hiện. Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc số lượng nhỏ, giá cả ôn định. Bán lẻ có thé thực hiện dưới các hình thức sau: - Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Khách hàng nhận giấy thu tiền, hóa đơn hoặc tích kê của nhân viên ban hàng rồi đến nhận hàng ở quay hàng hoặc kho.
Nhân viên bán hàng căn cứ vào hóa đơn, tích kê dé kiểm kê số hang bán ra trong ngày. - Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Nhân viên bán hàng trực tiếp bán hàng cho khách và thu tiền. - Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Khách hàng tự chọn hàng hóa và trả tiên cho nhân viên bán hàng. Hêt ngày nhân viên bán hàng nộp tiên vào quỹ.
- Hình thức bán trả góp: Người mua trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại ngoài số tiền thu theo hóa đơn giá bán hàng hóa còn thu thêm khoản tiền lãi trả chậm của khách. - Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hàng hoá mà trong đó, các doanh nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng. Sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đây hàng ra cho người mua.
- Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở nhận dai lý. Họ nhận hàng và thanh toán tiền cho doanh nghiệp thương mại rồi được nhận hoa hồng đại lý bán, (hàng hóa vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại). Hàng hóa được xác nhận tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận được tiền do bên nhận đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến bán hàng và xác định kết quả kinh doanh 2.
Doanh thu và phân loại doanh thu a, Doanh thu: - Theo chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 18 “Doanh thu - Revenue” được ban hành và công bố tháng 12 năm 1993, doanh thu được định nghĩa và có thể dịch như sau: “Doanh thu là thu nhập phát sinh trong quá trình hoạt động bình thường của một thực thể và có thể được gọi bằng một hoặc nhiễu tên gọi khác nhau, bao gom cả doanh thu, phí, lãi, cổ tức và tiền bản quyển ”. - Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14 “Doanh thu và thu nhập khác” được ban hành và công bồ theo quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31 tháng 12 năm 2001 của Bộ trưởng Bộ Tài chính, doanh thu được định nghĩa như sau: “Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phan lam phát triển vốn chủ sở hữu ”. => Như vậy, có thé hiểu doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc chắc chắn thu được từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu.
- Liên quan đến doanh thu còn có các khoản giảm trừ doanh thu gồm: + Chiết khâu thương mai: là khoản doanh nghiệp bán giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. + Giam giá hang bán: là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. + Giá trị hàng bán bị trả lại: là khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. b, Phân loại doanh thu: - Phân loại theo hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: + Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như: bán sản phẩm, hàng hoá, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm cả các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có).
+ Doanh thu hoạt động tài chính: bao gồm các khoản thu phát sinh từ tiền bản quyền, cho các bên khác sử dụng tài sản của doanh nghiệp, tiền lãi từ việc cho vay vốn, lãi tiền gửi, lãi bán hàng trả chậm, trả góp, lãi cho thuê tài chính, chênh lệch lãi do bán ngoại tệ, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ, chênh lệch lãi chuyển nhượng von và lợi nhuận được chia từ việc đầu tư ra ngoài doanh nghiệp. + Thu nhập khác: Bao gồm các khoản thu từ việc thanh lý, nhượng bán tài sản có định, thu tiền bảo hiểm được bồi thường các khoản nợ phải trả nay mat chủ được ghi tăng thu nhập, thu tiền phạt khách hàng do vi phạm hợp đồng và các khoản thu khác. Trong ba loại doanh thu trên, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là bộ phận doanh thu lớn nhất và có tính chất quyết định đối với hoạt động của doanh nghiệp. - Phân loại theo phương thức thanh toán tiền hàng: + Doanh thu thu tiễn ngay + Doanh thu trả chậm + Doanh thu nhận trước - Phân loại theo thời gian: + Doanh thu thực hiện: là toàn bộ tiền bán sản phẩm, hàng hóa; cung cấp dịch vụ; tiền lãi và các hoạt động khác nhận được trong kỳ.
+ Doanh thu chưa thực hiện: là nguồn hình thành nên tài sản (tiền, khoản phải thu khách hàng) của các giao dịch tạo ra doanh thu nhưng một phan trong doanh thu đó đơn vi chưa thực hiện được. Chi phí và phân loại chi phi a, Chỉ phí - Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, ngoài các hao phí về lao động sống cần thiết và lao động vật hóa dé tồn tại và phát triển, doanh nghiệp còn phải bỏ ra rất nhiều các khoản chi phí khác, các khoản chi phí có thé là một bộ phận mới do doanh nghiệp sáng tạo ra và cũng có những khoản chi phí đôi khi rất khó xác định chính xác là hao phí về lao động sống hay hao phí về lao động vật hóa. Do vậy hiện nay, chi phí hoạt động của doanh nghiệp được hiểu là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp đã chỉ ra trong quá trình hoạt động kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.