phần mở đầu và phần kết luận, bài khóa luận đƣợc kết cấu gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại. Chƣơng 2: Đặc điểm cơ bản và tình hình hoạt động kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và thƣơng mại 216. Chƣơng 3: Thực trạng và một số giải pháp đề xuất góp phần hoàn thiện công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh tại Công ty Cổ phần xây lắp và thƣơng mại 216. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP KINH DOANH THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề chung về công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh trong doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại 1. Khái niệm bán hàng Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh và là quá trình thực hiện giá trị của hàng hoá. Đây là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay ngƣời bán sang tay ngƣời mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hoặc quyền đƣợc đòi tiền ở ngƣời mua. Xét về góc độ kinh tế: Bán hàng là quá trình hàng hóa của doanh nghiệp đƣợc chuyển từ hình thái vật chất (hàng) sang hình thái tiền tệ (tiền).
Quá trình bán hàng của doanh nghiệp nói chung và của doanh nghiệp thƣơng mại nói riêng có những đặc điểm chính sau đây: Có sự trao đổi thỏa thuận giữa ngƣời mua và ngƣời bán, ngƣời bán đồng ý bán, ngƣời mua đồng ý mua, họ trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền. Có sự thay đổi quyền sở hữu về hàng hóa: Ngƣời bán mất quyền sở hữu, ngƣời mua có quyền sở hữu về hàng hóa mua bán. Trong quá trình bán hàng hóa, các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng một khối lƣợng hàng hóa và nhận lại của khách hàng một khoản gọi là doanh thu bán hàng. Số doanh thu này là cơ sở để doanh nghiệp xác định kết quả hoạt động kinh doanh.
Vai trò của công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh Trong quá trình kinh doanh của DN, hàng hoá bán đƣợc là yếu tố quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của DN. Hàng hoá đạt tiêu chuẩn chất lƣợng cao, giá thành hạ thì hàng hoá của DN tiêu thụ nhanh mang lại lợi nhuận cho DN, đảm bảo cho DN một vị trí vững chắc trên thị trƣờng. 5 * Đối với doanh nghiệp: Đối với một doanh nghiệp nói chung và một doanh nghiệp thƣơng mại nói riêng, tổ chức công tác bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có vai trò quan trọng, từng bƣớc hạn chế đƣợc sự thất thoát hàng hóa, phát hiện đƣợc những hàng hóa chậm luân chuyển để có biện pháp xử lý phù hợp nhằm thúc đẩy quá trình tuần hoàn vốn. Tìm ra những biện pháp thiếu sót mất cân đối giữa khâu mua - khâu dự trữ và khâu bán để có biện pháp khắc phục kịp thời.
* Đối với ngƣời tiêu dùng: Bán hàng là cầu nối đƣa sản phẩm từ doanh nghiệp đến tay ngƣời tiêu dùng, thông qua đó khách hàng đƣợc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, có thể mua sản phẩm một cách dễ dàng và nhanh chóng. * Đối với nền kinh tế quốc dân: Thực hiện tốt khâu bán hàng là điều kiện để kết hợp chặt chẽ giữa lƣu thông hàng hoá và lƣu thông tiền tệ, thực hiện chu chuyển tiền mặt, ổn định và củng cố giá trị đồng tiền, là điều kiện để ổn định và nâng cao đời sống của ngƣời lao động nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Nhiệm vụ của công tác kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh - Để thực sự là công cụ quản lý kinh tế sắc bén,có hiệu quả đáp ứng tốt yêu cầu quản lý thì kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau: - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời chính xác tình hình hiện có và sự biến động của từng loại sản phẩm, hàng hoá theo chỉ tiêu số lƣợng, chất lƣợng, chủng loại và giá trị. - Phản ánh và ghi chép đầy đủ, kịp thời và chính xác các khoản doanh thu, các khoản giảm trừ doanh thu, trị giá vốn của hàng bán, đồng thời theo dõi và đôn đốc các khoản phải thu.
- Phản ánh và tính toán chính xác kết quả của hoạt động bán hàng, giám sát tình hình thực hiện kế hoạch bán hàng, kế hoạch lợi nhuận, tình hình thực hiện nghĩa vụ của doanh nghiệp với Nhà nƣớc. 6 - Cung cấp các thông tin kế toán phục vụ cho việc lập Báo cáo tài chính và định kỳ phân tích hoạt động kinh tế liên quan đến quá trình bán hàng, xác định và phân phối kết quả. Các phƣơng thức bán hàng và phƣơng thức thanh toán 1. Các phương thức bán hàng Trong các doanh nghiệp thƣơng mại, để thực hiện việc lƣu thông hàng hoá, dịch vụ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao trong tiêu dùng xã hội, doanh nghiệp có thể thực hiện việc tiêu thụ hàng hoá theo hai phƣơng thức chủ yếu: bán buôn và bán lẻ, đƣợc chi tiết dƣới nhiều hình thức khác nhau (trực tiếp, chuyển hàng.) theo đó hàng hoá vận động đến tận tay ngƣời tiêu dùng.
Việc lựa chọn và áp dụng linh hoạt các phƣơng thức bán hàng đã góp phần không nhỏ vào thực hiện kế hoạch bán hàng của doanh nghiệp. Dƣới đây là một số phƣơng thức bán hàng trong doanh nghiệp kinh doanh thƣơng mại đƣợc thể hiện theo sơ đồ 1.1 nhƣ sau: Các phƣơng thức bán hàng Bán buôn Bán lẻ Bán buôn Bán buôn Bán lẻ thu Bán lẻ không Bán hàng không qua qua kho tiền tập thu tiền tập tự động kho trung trung Giao hàng Chuyển hàng trực tiếp chờ chấp nhận Sơ đồ 1.1: Các phƣơng thức bán hàng trong doanh nghiệp thƣơng mại * Phƣơng thức bán buôn: Bán buôn hàng hoá đƣợc hiểu là hình thức bán hàng cho ngƣời mua trung gian để họ tiếp tục chuyển bán hoặc bán cho các nhà sản xuất. Trong phƣơng thức bán buôn thì có hai phƣơng thức: 7 - Bán buôn qua kho: Là bán buôn hàng hoá mà hàng hoá đó đƣợc xuất ra từ kho bảo quản của doanh nghiệp. - Bán buôn không qua kho: Là hình thức bán mà các doanh nghiệp thƣơngmại sau khi tiến hành mua hàng hoá không đƣa về nhập kho mà chuyển thẳng đến cho bên mua.
Nó bao gồm bán buôn trực tiếp và chuyển hàng chờ chấp nhận * Phƣơng thức bán lẻ: Bán lẻ hàng hóa là phƣơng thức bán hàng trực tiếp cho ngƣời tiêu dùng hoặc cho tổ chức kinh tế, đơn vị kinh tế, tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bao gồm ba phƣơng thức bán hàng: bán lẻ thu tiền tập trung, bán lẻ không thu tiền tập trung và bán lẻ tự động. Phương thức thanh toán 1. Thanh toán bằng tiền mặt Khi ngƣời mua nhận đƣợc hàng từ DN thì sẽ thanh toán ngay bằng tiền mặt hoặc nếu đƣợc sự đồng ý của DN thì bên mua sẽ ghi nhận nợ để thanh toán sau.
Phƣơng thức này đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời mua hàng với số lƣợng không nhiều và chƣa mở tài khoản ngân hàng. Thanh toán không dùng tiền mặt Theo phƣơng thức này, ngƣời mua có thể thanh toán bằng các loại séc, ngân phiếu, các loại tài sản có giá trị tƣơng đƣơng. Phƣơng thức này thƣờng sử dụng trong trƣờng hợp ngƣời mua hàng với số lƣợng lớn, có giá trị lớn và đã mở tài khoản tại ngân hàng. Công tác kế toán bán hàng 1.
Kế toán giá vốn hàng bán 1.1 Khái niệm: Giá vốn hàng bán là giá trị thực tế xuất kho của sản phẩm, hàng hóa hoặc giá trị thực tế của lao vụ, dịch vụ đã cung cấp đã đƣợc xác định là tiêu thụ để xác định hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ.2 Chứng từ sử dụng: Phiếu xuất kho, phiếu nhập kho, sổ Cái TK 632… 1.3 Tài khoản sử dụng và kết cấu tài khoản: 8 - Tài khoản sử dụng: TK 632 – “Giá vốn hàng bán”. - Kết cấu TK: TK 632 – “Giá vốn hàng bán”. Nợ TK 632 Có - Trị giá vốn và Các phi phí được tính - Trị giá hàng bán bị trả lại, khoản vào giá vốn hàng bán trong kỳ. hoàn nhập dự phòng cuối kỳ - Các khoản hao hụt mất mát, lập dự - Kết chuyển giá vốn bán hàng đã phòng giảm giá HTK bán hàng trong kỳ sang tài khoản 911 để xác định kết quả kinh doanh ∑ Phát sinh Nợ ∑ Phát sinh Có Tài khoản 632 không có số dƣ cuối kỳ.4 Các phƣơng pháp tính giá hàng hóa a) Phương pháp tính giá đối với hàng hóa mua về nhập kho Giá thực tế = Giá mua + Chi phí thu mua – Khoản giảm giá - Giá trị hàng mua trên hóa đơn: Là giá trị hàng hóa trên hóa đơn GTGT(DN áp dụng phƣơng pháp khấu trừ) hoặc hóa đơn bán hàng (DN áp dụng phƣơng pháp trực tiếp).
- Chi phí thu mua có thể bao gồm các chi phí vận chuyển, bốc xếp, phí bảo quản, bảo hiểm, hao hụt trên đƣờng đi, tiền thuê kho bãi; chi phí của bộ phận thu mua độc lập, chi phí gia công chế biến trƣớc khi nhập kho. - Khoản giảm giá (nếu có) là khoản giảm giá phát sinh sau khi nhận hàng và xuất phát từ việc giao hàng không đúng quy cách, thời hạn … đã ký kết. b) Phương pháp tính giá hàng hóa xuất kho Phƣơng pháp nhập trƣớc – xuất trƣớc (FIFO): Phƣơng pháp này dựa trên giả thuyết hàng hóa nhập trƣớc sẽ đƣợc xuất trƣớc. Do đó, giá trị hàng hóa xuất kho đƣợc tính hết theo giá nhập kho lần trƣớc rồi mới tính tiếp giá nhập kho lần sau.
Phƣơng pháp bình quân gia quyền: Trị giá vốn hàng xuất bán = Số lƣợng x Đơn giá bình quân 9 Đơn giá bình quân đƣợc tính trong từng phƣơng pháp bình quân gia quyền nhƣ sau: Giá trị thực tế Giá trị hàng hóa thực hàng hóa tồn kho Đơn giá + tế nhập trong kỳ đầu kỳ bình quân = Số lƣợng hàng hóa Số lƣợng hàng hóa + tồn đầu kì nhập trong kỳ + Theo phƣơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ đƣợc tính theo công thức: + Giá đơn vị bình quân sau mỗi lần nhập đƣợc tính theo công thức sau: Giá đơn vị bình quân Giá thực tế hàng tồn kho sau mỗi lần = sau mỗi lần nhập Số lƣợng hàng tồn kho sau mỗi lần nhập Phƣơng pháp giá thực tế đích danh: Phƣơng pháp này đƣợc sử dụng trong trƣờng hợp doanh nghiệp quản lý hàng hóa theo từng lô hàng nhập.