phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, kết cấu nội dung chính của luận văn gồm ba phần: Phần I: Những vấn đề cơ bản về phân tích tài chính của doanh nghiệp Phần II: Phân tích thực trạng tình hình tài chính của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây Phần III: Một số giải pháp nhằm cải thiện tình hình tài chính của công ty cổ phần dược phẩm Hà Tây NTH: HV. TƯỞNG HỒNG NHUNG - LỚP QTKD2 – KHÓA 2011B Page 2 Luận văn tốt nghiệp PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Tổng quan về tài chính doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về tài chính doanh nghiệp Để tiến hành hoạt động kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng phải có vốn tiền tệ nhất định, đó là một tiền đề cần thiết. Quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp. Trong quá trình đó đã phát sinh các luồng tiền tệ gắn liền với các hoạt động đầu tư và các hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp, tạo thành sự vận động của các luồng tài chính của doanh nghiệp.
Vì vậy, tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ về mặt giá trị được biểu hiện bằng tiền trong lòng một doanh nghiệp và giữa nó với các chủ thể có liên quan ở bên ngoài mà trên cơ sở đó giá trị doanh nghiệp được tạo lập. Các quan hệ tài chính chủ yếu bao gồm: Quan hệ giữa doanh nghiệp với nhà nước: tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phải thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước như: nộp thuế cho ngân sách nhà nước… Ngược lại, nhà nước sẽ cấp vốn ngân sách cho các doanh nghiệp nhà nước hoặc cho vay thông qua hình thức mua trái phiếu, tùy theo mục đích yêu cầu quản lý đối với ngành kinh tế mà nhà nước quyết định hình thức cấp vốn cho phù hợp. Quan hệ giữa các chủ thể kinh tế khác: từ sự đa dạng hóa hình thức sở hữu trong nền kinh tế thị trường đã tạo ra các mối quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác; giữa doanh nghiệp với các nhà đầu tư, nhà cho vay; giữa doanh nghiệp với bạn hàng và khách hàng thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm các quan hệ thanh toán tiền mua vật tư, hàng hóa, phí bảo hiểm, chi trả tiền công, cổ tức, tiền lãi trái phiếu; giữa doanh nghiệp với ngân hàng và các tổ chức tín dụng trong quá trình doanh nghiệp phát sinh vay vốn, hoàn trả gốc, trả lãi cho ngân hàng và các tổ chức tín dụng. TƯỞNG HỒNG NHUNG - LỚP QTKD2 – KHÓA 2011B Page 3 Luận văn tốt nghiệp Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: bao gồm quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với các phòng ban trong việc nhận tạm ứng, thanh toán tài sản; quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên chức trong quá trình phân phối thu nhập cho lao động dưới hình thức tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt và lãi cổ phần.
Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường xuyên được xem là quan hệ tiền tệ. Những quan hệ tiền tệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, chiếm địa vị chủ thể trong quan hệ kinh tế đồng thời phản ánh rõ nét giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính quốc gia. Tài chính doanh nghiệp có các chức năng sau: Chức năng tạo vốn Luân chuyển vốn Phân phối thu nhập bằng tiền Chức năng kiểm tra 1.2 Vị trí, vai trò của tài chính doanh nghiệp Tài chính doanh nghiệp là một bộ phận cấu thành hệ thống tài chính quốc gia và là khâu cơ sở của hệ thống tài chính. Nếu xét trên phạm vi của một đơn vị sản xuất kinh doanh thì tài chính doanh nghiệp được coi là một trong những công cụ quan trọng cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Bởi mọi mục tiêu, phương hướng sản xuất kinh doanh chỉ có thể thực hiện trên cơ sở phát huy hết các chức năng của tài chính doanh nghiệp từ việc xác định nhu cầu đặt ra khi có đủ vốn phải tổ chức sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả đồng vốn để việc phải theo dõi, kiểm tra, quản lý chặt chẽ các chi phí và sử dụng đòn bẩy tài chính nhằm kích thích, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh thông qua việc phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp cho người lao động trong doanh nghiệp. Nếu xét trên góc độ của hệ thống tài chính quốc gia thì tài chính doanh nghiệp được coi là một bộ phận của hệ thống tài chính, trong đó ngân sách nhà nước giữ NTH: HV. TƯỞNG HỒNG NHUNG - LỚP QTKD2 – KHÓA 2011B Page 4 Luận văn tốt nghiệp vai trò chủ đạo, các định chế tài chính trung gian (hệ thống tín dụng, hệ thống bảo hiểm) có vai trò hỗ trợ tài chính các tổ chức xã hội và hộ dân cư bổ sung nguồn lực cho tài chính quốc gia, còn tài chính doanh nghiệp là khâu cơ sở của hệ thống. Sự hoạt động có hiệu quả của tài chính doanh nghiệp có tác dụng củng cố tài chính quốc gia.
Tài chính doanh nghiệp bao gồm: tài chính của các đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh hàng hóa và cung ứng dịch vụ thuộc mọi thành phần kinh tế. Tài chính doanh nghiệp là một công cụ khai thác thu hút các nguồn tài chính nhằm đảm bảo nhu cầu vốn cho đầu tư kinh doanh của doanh nghiệp. Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả. Tài chính doanh nghiệp được sử dụng như một công cụ để kích thích, thúc đẩy sản xuất kinh doanh.
Tài chính doanh nghiệp là một công cụ quan trọng để kiểm tra các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.3 Các chỉ tiêu phản ánh tình hình tài chính doanh nghiệp 1.1 Nhóm chỉ tiêu an toàn tài chính Khả năng thanh toán là khả năng của tài sản có thể nhanh chóng chuyển hóa thành tiền mặt để thanh toán các khoản nợ phải trả. Phân tích khả năng thanh toán của doanh nghiệp tức là phân tích sự cân đối tài chính của doanh nghiệp thông qua mối quan hệ so sánh giữa khả năng chuyển hóa thành tiền và các khoản nợ. Khả năng thanh toán được thể hiện bằng các chỉ tiêu sau: Hệ số tự tài trợ (khả năng tự tài trợ): Chỉ tiêu này được tính như sau: Nguồn vốn chủ sở hữu Hệ số tự tài trợ = Tài sản dài hạn Hệ số này càng cao chứng tỏ vốn chủ sở hữu được đầu tư vào tài sản dài hạn càng lớn. Điều này giúp doanh nghiệp tự đảm bảo về mặt tài chính nhưng hiệu quả NTH: HV.
TƯỞNG HỒNG NHUNG - LỚP QTKD2 – KHÓA 2011B Page 5 Luận văn tốt nghiệp kinh doanh sẽ không cao do vốn chủ yếu đầu tư vào tài sản dài hạn, ít sử dụng vào kinh doanh quay vòng để sinh lời. Chỉ số lưu thông (khả năng thanh toán hiện thời): Chỉ tiêu này cho biết khả năng thanh toán hiện thời (ngắn hạn) của doanh nghiệp (phải thanh toán trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh). Tính hợp lý của độ lớn hệ số thanh toán ngắn hạn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh. Ngành nghề nào mà tài sản lưu động chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và ngược lại.
Chỉ tiêu này được tính như sau: Tài sản ngắn hạn Khả năng thanh toán hiện thời = Tổng nợ ngắn hạn Chỉ tiêu này được coi là an toàn khi nó lớn hơn 1 hoặc bằng 1; điều này nói lên rằng không được dùng nguồn vốn ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn. Tuy nhiên trong nhiều trường hợp chỉ số lưu thông phản ánh không chính xác khả năng thanh toán như: hàng tồn kho có tính thanh khoản thấp, vì vậy cần phải quan tâm đến khả năng thanh toán nhanh. Chỉ số thanh toán nhanh (khả năng thanh toán nhanh) Khả năng thanh toán nhanh là thước đo về khả năng trả nợ ngay, không dựa vào việc phải bán các tài sản dự trữ (tồn kho), tức là những tài sản có thể nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn, các khoản phải thu. Chỉ tiêu này được tính như sau: Tài sản ngắn hạn – Hàng tồn kho Khả năng thanh toán nhanh = Tổng nợ ngắn hạn Trị số của chỉ tiêu này càng lớn (lớn hơn 0.5) khả năng thanh toán của doanh nghiệp tương đối khả quan, nếu chỉ tiêu này càng thấp (nhỏ hơn 0.5) doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ.
Tuy nhiên nếu chỉ tiêu này quá lớn sẽ gây ứ đọng vốn, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Tình hình tài chính doanh nghiệp được thể hiện qua khả năng thanh toán. Nếu doanh nghiệp có khả năng thanh toán thì tình hình tài chính là khả quan và ngược NTH: HV. TƯỞNG HỒNG NHUNG - LỚP QTKD2 – KHÓA 2011B Page 6 Luận văn tốt nghiệp lại.
Do vậy, khi đánh giá khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp không thể không xem xét khả năng thanh toán. Hệ số thanh toán tức thời Hệ số thanh toán tức thời là khả năng thanh toán nợ đến hạn phải trả; chỉ tiêu này nói lên mức độ sẵn sàng trả nợ khi các chủ nợ yêu cầu thanh toán. Tiền Hệ số thanh toán tức thời = Nợ đến hạn phải trả Nếu tỷ suất này quá cao sẽ phản ánh một tình hình không tốt vì vốn bằng tiền quá nhiều, vòng quay tiền chậm làm giảm hiệu quả sử dụng vốn. Thực tế cho thấy, tỷ suất này nếu bằng 0.5 thì tình hình thanh toán tương đối khả quan, còn nếu <0.5 thì doanh nghiệp có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán công nợ và do đó có thể phải bán gấp hàng hóa, sản phẩm để trả nợ vì không đủ tiền thanh toán.
Khả năng thanh toán lãi vay Lãi vay phải trả là khoản chi phí cố định hoặc biến đổi tùy theo thỏa thuận trong hợp đồng, tuy nhiên nguồn để trả lãi vay là lợi nhuận gộp về bán hàng và cung cấp dịch vụ. So sánh giữa nguồn vốn để trả lãi vay với số lãi vay phải trả cho chúng ta biết doanh nghiệp đã sẵn sàng trả tiền lãi vay tới mức nào. Hệ số này dùng để đo lường mức độ lợi nhuận có được do sử dụng vốn để đảm bảo trả lãi cho chủ nợ.