Chương 1: Tổng quan nghiên cứu kế toán bán hàng Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và thực trạng kế toán bán hàng Ti vi tại công ty TNHH Trường Minh. Chương 4: Các kết luận và đề xuất hoàn thiện kế toán bán hàng Ti vi tại công ty TNHH Trường Minh. Luan van Chương 2: Một số vấn đề lý luận cơ bản về kế toán bán hàng 2.
Một số khái niệm cơ bản về kế toán bán hàng trong DNTM Để nghiên cứu kế toán bán hàng, trước tiên phải tìm hiểu một số thuật ngữ mà kế toán bán hàng sử dụng: - Bán hàng: Là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của một DN thương mại, nó chính là quá trình chuyển giao quyền sở hữu về hàng hóa từ tay người bán sang tay người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ hay quyền được đòi tiền ở người mua. - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ số tiền thu được hoặc sẽ thu được từ các giao dịch và nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ cho khách hàng bao gồm các khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài giá bán ( nếu có). - Chiết khấu thương mại: Là khoản DN bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn. - Chiết khấu thanh toán: Là khoản tiền người bán giảm trừ cho người mua do hàng kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu.
- Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán. - Giá vốn hàng bán: Theo chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho”: Giá vốn hàng bán được được xác định theo giá gốc. Giá gốc HTK bao gồm: Chi phí mua, chi phí chế biến và các chi phí liên quan trực tiếp khác phát sinh để có được HTK ở thời điểm hiện tại. Chi phí mua HTK bao gồm giá mua, các loại thuế không hoàn lại, chi phí vận chuyển, bốc xếp, bảo quản trong quá trình mua hàng và các chi phí khác có liên quan trực tiếp đến mua HTK.
Các khoản chiết khấu thương mại và giảm giá hàng mua do hàng mua không đúng quy cách phẩm chất được trừ khỏi chi phí mua. Một số lý thuyết kế toán bán hàng trong DNTM. Để đi sâu nghiên cứu kế toán bán hàng và hoàn thiện kế toán bán hàng, chúng ta phải nghiên cứu những vấn đề lý luận chung nhất của chuẩn mực kế toán Việt Nam về kế toán bán hàng, mà tiêu biểu là chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho” và chuẩn mực số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác”. Theo chuẩn mực số 02 “ Hàng tồn kho”, quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán HTK, gồm: Xác định giá trị và kế toán HTK vào chi phí; ghi giảm giá trị hàng tồn kho cho phù hợp với giá trị thuần có thể thực hiện được và phương pháp tính giá trị hàng tồn kho làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Chuẩn mực này áp dụng cho kế toán HTK theo nguyên tắc giá gốc. Trường hợp giá trị thuần cí thể thực hiện được thấp hơn giá gốc thì phải tính theo giá trị thuần Luan van có thể thực hiện được. việc xác định giá HTK được áp dụng theo một trong các phương pháp sau: - Phương pháp tính theo giá đích danh được áp dụng đối với DN có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. - Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp này, giá trị của từng loại HTK được tính theo giá trị trung bình của từng lạo HTK tương tự đầu kỳ và giá trị từng loại HTK được mua hoặc sản xuất trong ky.
Giá trung bình có thể được tính theo thời kỳ hoặc vào mỗi khi nhập một lô hàng về, phụ thuộc vào tình hình DN. - Phương pháp nhập trước xuất trước: Được áp dụng dựa trên giả định HTK được mua trước hoặc sản xuất trước thì được xuất trước, và HTK còn lại cuối kỳ là HTK được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp này, giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của HTK được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. - Phương pháp nhập sau, xuất trước: Áp dụng dựa trên giả định HTK được mua sau hoặc sản xuất sau thì xuất trước, và HTK còn lại cuối kỳ là HTK được mua và sản xuất trước đó.
Theo phương pháp này thì giá trị HTK được tính theo giá của lô hàng nhập sau hoặc gần sau cùng, giá trị của HTK được tính theo giá của hàng nhập kho đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ còn tồn kho. Giá trị HTk không thu hồi đủ khi HTK bị hư hỏng, lỗi thời, giá bán bị giảm, hoặc chi phí hoàn thiện, chi phí bán hàng tăng lên. Việc ghi giảm giá gốc TK cho bằng giá trị thuần có thể thực hiện được là phù hợp với nguyên tắc tài sản không được phản ánh lớn hơn giá trị thực hiện ước tính từ việc bán hay sử dụng chúng. Theo chuẩn mực số 14 “ Doanh thu và thu nhập khác” đã quy định và hướng dẫn các nguyên tắc và phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác bao gồm: Các loại doanh thu, thời điểm ghi nhận doanh thu, phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác làm cơ sở ghi sổ kế toán và lập báo cáo tài chính.
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế DN đã thu được hoặc sẽ thu được. Cac khoản thu nội bộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của DN sẽ không được coi là doanh thu. Thời điểm ghi nhận doanh thu” - DN đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. - DN không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa.
- Doanh thu đã được xác định tương đối chắc chắn. - DN đã thu được hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng. - Xác định được các khoản chi phí liên quan tới giao dịch bán hàng. Luan van Trường hợp DN có doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ bằng ngoại tệ, thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá thực tế phát sinh hoặc tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế.
Doanh thu phát sinh từ giao dịch, sự kiện được xác định bởi thỏa thuận giữa DN với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp lý của các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thuần mà DN thực hiện được trong ký kế toán có thể thấp hơn doanh thu bán hàng và dịch vụ ghi nhận ban đầu do các nguyên nhân: DN chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hoặc hàng bán bị trả lại (do không đảm bảo về quy cách, phẩm chất ghi trong hợp đồng kinh tế), và DN phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt hoặc thuế xuất khẩu, thuế GTGT thep phương pháop trực tiếp được tính trên doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ thực tế mà DN đã thực hiện trong một kỳ kế toán. Nội dung kế toán bán hàng trong DNTM: 2.
Đặc điểm nghiệp vụ kế toán bán hàng: Bán hàng là khâu cuối cùng trong quá trình hoạt động kinh doanh của DNTM. Thực hiện nghiệp vụ này, vốn của DNTM được chuyển từ hình thái hiện vật là hàng hóa sang hình thái tiền tệ. Nghiệp vụ bán hàng của DNTM có những đặc điểm cơ bản sau: Đối tượng phục vụ: Đối tượng phục vụ của các DNTM là người tiêu dùng cá nhân, các đơn vị sản xuất, kinh doanh khác và các cơ quan tổ chức xã hội. Các phương thức bán hàng trong DNTM: Bán buôn qua kho: Là bán buôn hàng hóa mà hàng hóa được từ kho bảo quản của DN.
Trong phương thức này có hai hình thức: Bán buôn qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình thức này bên mua đề cử đại diện đến kho của DNTM để nhận hàng. DNTM xuất kho hàng hóa, giao trực tiếp cho đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa dược xác định là tiêu thụ. Bán buôn qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã ký kết hoặc đơn đặt hàng, DNTM xuất kho hàng hóa, bằng phương tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài, chuyển hàng giao cho bên mua ở một địa điểm thỏa thuận.
Hàng hóa chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM. Hàng này được xác định là tiêu thụ khi nhận được tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh toán. Chi phí vận chuyển do DNTM chịu hay bên mua chịu là do sự thỏa thuận từ trước giữa hai bên. Nếu DNTM chịu chi phí vận chuyển, sẽ được ghi vào chi phí bán hàng.
Nếu bên mua chịu sẽ phải thu tiền của bên mua. Luan van Bán buôn vận chuyển thẳng: Theo hình thức này, DNTM sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai hình thức: Bán hàng vận chuyển thẳng theo hình thức giao trực tiếp (hình thức giao tay ba). Theo hình thức này DNTM sau khi mua hàng, nhận hàng mua và giao trực tiếp cho đại diện bên mua tại kho người bán.
Sau khi giao, nhận, đại diện bên mua kí nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp nhận nợ, hàng hóa được xác nhận là tiêu thụ. Bán buôn vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển thẳng: Theo hình thức này, DNTM sau khi mua hàng, nhận hàng mua, bằng pgwowng tiện của mình hoặc thuê ngoài chuyển hàng đến giao cho bên muaowr một địa điểm đã được thỏa thuận. Hàng hóa chuyển bán trong trường hợp này vẫn thuộc quyền sở hữu của DNTM.