MỞ ĐẦU Bệnh sốt rét hiện nay vẫn còn là vấn đề sức khỏe lớn trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Theo báo cáo sốt rét thế giới mới nhất của WHO, ước tính có khoảng 241 triệu ca sốt rét và 627.000 ca tử vong do sốt rét trên toàn thế giới vào năm 2020. Con số này cho thấy năm 2020 nhiều hơn khoảng 14 triệu ca so với năm 2019 và 69.000 ca tử vong. Khoảng 2/3 trong số những ca tử vong bổ sung này (47.000) có liên quan đến sự gián đoạn trong việc cung cấp các dịch vụ phòng ngừa, chẩn đoán và điều trị bệnh sốt rét trong thời kỳ đại dịch.
Báo cáo này cũng bao gồm các ước tính mới về số trẻ em dưới 5 tuổi bị sốt rét ở châu Phi cận Sahara, nơi phần lớn tử vong do sốt rét xảy ra hàng năm. Bệnh hiện lưu hành tại 97 quốc gia và vùng lãnh thổ; tập chung tại các quốc gia ch u Phi, T y Thái Bình Dương [1]. Tại Việt Nam, mặc dù tình hình sốt rét có xu hướng giảm qua các năm, nhưng tại một số khu vực Miền Trung - T y Nguyên và Đông Nam Bộ, sốt rét vẫn còn tồn tại dai dẳng. Theo thống kê của Viện Sốt rét - Ký sinh trùng – Côn trùng Trung ương, năm 2011 số bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng sốt rét (KSTSR) là 16.612, có 14 trƣờng hợp tử vong [2].331 bệnh nhân nhiễm KSTSR, 3 trƣờng hợp tử vong [3].813 bệnh nhân nhiễm KSTSR, 1 trƣờng hợp tử vong [4].
Bên cạnh đó, tình hình sốt xuất huyết vẫn đang trong tình trạng báo động ở nhiều vùng nông thôn lẫn thành thị. Đặc biệt trong trong 9 tháng năm 2018, cả nước ghi nhận 67.414 trường hợp mắc tại 62/63 tỉnh, thành phố, trong đó có 11 trường hợp tử vong (Cục Y tế dự phòng). Nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện khí hậu thuận lợi cho các loài côn trùng gây bệnh tồn tại và phát triển. Công tác phòng chống muỗi truyền bệnh sốt rét, bệnh sốt xuất huyết và các côn trùng truyền bệnh khác gặp nhiều khó khăn.
Nguyên nh n là do nước ta nằm trong vùng nhiệt đới, điều kiện khí hậu thuận lợi cho các loài côn trùng gâ bệnh phát triển. Đặc biệt trong bối cảnh những biến đổi thất thường của khí hậu toàn cầu, côn trùng truyền bệnh xuất hiện nhiều loài, đa dạng, thay đổi tập tính chú đậu ngoài nhà, trong nhà. Việc sử sụng hóa chất diệt côn trùng tràn làn sau thời gian dài sẽ dẫn đến muỗi kháng hóa chất, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát dịch bệnh, hơn nữa sử dụng hóa chất lâu dài sẽ có nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe con người. 2 Chính vì vậy việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ tự nhiên đang trở thành một xu thế do hiệu quả các sản phẩm đem lại, đồng thời ít gây tác dụng phụ với con người, thân thiện với môi trường và có sẵn ở Việt Nam.
Trước tình hình đó chúng tôi tiến hành “Nghiên cứu sản xuất hương xua muỗi chứa tinh dầu bạch đàn chanh tại phòng thí nghiệm và thử nghiệm phòng chống muỗi tại x T n Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, năm 2020-2021” với hai mục tiêu gồm: 1. Xây dựng quy trình tạo hương xua muỗi chứa tinh dầu bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora) và đánh giá hiệu lực diệt muỗi của hương xua muỗi tại phòng thí nghiệm. Đánh giá hiệu lực xua muỗi của hương chứa tinh dầu bạch đàn chanh (Eucalyptus citriodora) và tác dụng không mong muốn và sự chấp nhận của cộng đồng với hương xua tại x T n Sơn, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam. 3 CHƢƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Muỗi Anopheles trên Thế giới và Việt Nam Muỗi Anopheles Meigen, 1818 thuộc họ muỗi Culicidae Meigen,1818. Họ này có khoảng 3.500 loài, được chia thành 3 phân họ: Toxorhynchitinae (Edwards. 1932), Culicinae Meigen,1818, Anophelinae Meigen,1818. Phân họ Anophelinae được chia thành 3 giống: Bironella Theobald, 1905, Chagasia Cruz, 1906 và Anopheles Meigen,1818, nhưng chỉ có một số loài thuộc giống Anopheles truyền sốt rét (SR) ở người [5].
Ở các vùng địa lý khác nhau có những loài muỗi truyền SR khác nhau. Có thể điểm qua một số véc tơ quan trọng: Ch u Phi véc tơ truyền SR chính là An. arabiensis; Trung Mỹ: An. albimanus; Nam Mỹ: An.
darlingi; Bắc Mỹ: An. quadrimaculatus, vịnh Ả Rập: An. stephensi; Thổ Nhĩ Kỳ: An. sacharovi; Ấn Độ: An.
minimus…; Trung Quốc: An. minimus…; vùng Trung Á: An. superpictus; Đông Âu: An. messeae; Tây Âu: An.
atropavus; Australia: An. farauti; Đông Nam Á: An. Bên cạnh các véc tơ SR chính còn có một số véc tơ phụ đóng vai trò thứ yếu truyền SR. Mỗi véc tơ có vùng ph n bố nhất định và đóng vai trò truyền bệnh trong khu vực nào đó.
Trong cùng một vùng địa lý có thể có một vài véc tơ chính cùng với một vài véc tơ phụ. Vai trò chính hay phụ có thể thay đổi theo thời gian và không gian. Năm 1968, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng (nay là Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương) đ xuất bản khoá định loại muỗi Anopheles ở Việt Nam với 32 loài. Lê Xuân Hợi (1995) nghiên cứu phân bố muỗi Anopheles ở miền Bắc [7].
Lê Khánh Thuận (1975) nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái và vai trò dịch tễ muỗi Anopheles khu vực Nam Trường Sơn với 36 loài. Trần Đức Hinh (1995) đ thống kê danh sách 59 loài Anopheles trên toàn quốc, và phân tích sự phân bố của muỗi Anopheles theo cảnh quan, độ cao và theo vùng địa lý tự nhiên. Tác giả đ có một số nhận xét về phân bố: 5 loài bắt gặp ở mọi vùng tự nhiên, 20 loài chỉ phát hiện ở vùng núi đồi, hai loài chỉ phân bố ở vùng nước lợ, 29 loài chỉ gặp ở một số 4 khu địa lý nhất định [9]. Năm 2008, Viện Sốt rét-Ký sinh trùng-Côn trùng Trung ương đ xuất bản Bảng định loại muỗi Anophelinae ở Việt Nam gồm 62 loài (chưa kể An.
harrisoni - một loài đồng hình trong nhóm loài An. Số loài có khả năng truyền sốt rét chỉ có 15 loài, bao gồm 03 véc tơ chính (An. epiroticus), 08 véc tơ phụ (An.) và 04 loài muỗi nghi ngờ là véc tơ (An. Muỗi Culicinae trên Thế giới và Việt Nam Phân họ muỗi Culicinae nói riêng thuộc họ muỗi Culicidae nói chung phân bố rộng rãi trên toàn thế giới và là một trong những phân họ có ý nghĩa dịch tễ rất quan trọng, cho nên đ được rất nhiều tác giả nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực khác nhau như hệ thống phân loại, hình thái, giải phẫu, sinh học, sinh thái, di truyền, vai trò truyền bệnh và các biện pháp phòng chống.
Ở nhiều nước trên thế giới, công tác điều tra cơ bản đ được quan tâm nghiên cứu và tiến hành từ l u, và đ có nhiều công trình nghiên cứu khu hệ muỗi Culicinae nói riêng và Culicidae nói chung. Trong số những công trình nghiên cứu về khu hệ muỗi Culicidae, trong đó có khu hệ Culicinae Đ có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố, điển hình có công trình của Horsffall (1955) đ mô tả đặc tính sinh học của muỗi liên quan đến dịch bệnh. Clements (1992, 1999, 2012) xuất bản sách về sinh học và sinh lý học và vai trò truyền bệnh của muỗi. Ameen (1982) nghiên cứu tập tính trú đậu, hoạt động hút máu và lựa chọn vật chủ của muỗi.
Hawley (1988) nghiên cứu sinh học của muỗi Ae. Tuy nhiên, trong số những công trình nghiên cứu về muỗi thì công trình “Aedes aegypti (L) the Yellow fever mosquito” của Christopher (1960) có nội dung rất phong phú. Trong công trình này tác giả đ nghiên cứu rất đầy đủ về các đặc điểm sinh học, sinh thái, vai trò truyền bệnh… của muỗi Ae. 5 Về vai trò dịch tễ của phân họ muỗi Culicinae: trong phân họ muỗi này có nhiều loài là vật trung gian truyền những bệnh nguy hiểm như bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết Dengue, viêm não Nhật Bản, giun chỉ, v.v… Ở nhiều nước cũng đ được nghiên cứu tương đối đầy đủ.
Trong khoảng 44 giống thì nhiều giống có vai trò dịch tễ quan trọng như giống Aedes, Culex, Lutzia, Mansonia… trong đó các tác giả đ khẳng định vai trò truyền bệnh rất quan trọng của một số loài muỗi như Ae. albopictus… là véc tơ chính truyền bệnh sốt vàng, sốt xuất huyết dengue, chikungunya; Cx. vishnui… truyền viêm não Nhật Bản; Cx. anulifera… là véc tơ chính truyền bệnh giun chỉ bạch huyết.
Những nghiên cứu về đặc điểm sinh thái: trong chu kỳ sống của muỗi có ba giai đoạn phát triển ở môi trường nước là trứng, bọ gậy và quăng. Giles (1901) cho rằng bọ gậy của một loài muỗi phân bố ở một địa hình hoặc trong một môi trường nước nhất định. Một số tác giả đ nghiên cứu đặc tính phân bố của muỗi theo ổ bọ gậy, như Laird (1988) khi nghiên cứu về lịch sử tự nhiên môi trường sống của bọ gậy thấy rằng địa hình không phải là một nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến sự phân bố của muỗi, nhưng lại có sự ảnh hưởng gián tiếp đến sự phân bố của muỗi, vì mỗi địa hình đếu có một hệ thống các ổ nước thuận lợi hoặc không thuận lợi đến sự phát triển bọ gậy của muỗi, dẫn đến chúng sẽ ảnh hưởng đến sự phân bố của muỗi trưởng thành. Do đó, tác giả dựa vào các yếu tố vật lý, hóa học của các ổ nước để phân chia các dạng ổ bọ gậy.
Ở nước ta, nghiên cứu về muỗi được tiến hành từ những năm đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, trước cách mạng tháng 8 năm 1945, việc nghiên cứu muỗi chỉ được tiến hành một cách rời rạc phục vụ cho các vị trí đóng qu n của quân đội viễn chinh và các đồn điền khai thác của thực dân Pháp. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, công tác điều tra cơ bản muỗi Culicidae được nghiên cứu đầy đủ hơn, đặc biệt là các công trình nghiên cứu về muỗi Anopheles. Trong số các công trình nghiên cứu đó, nổi bật là các công trình nghiên cứu của Galliard (1947, 1950) nghiên cứu muỗi Culicidae ở Vịnh Bắc bộ, các tác giả đ thống kê được ở đ y có.
Stone (1966) là người đầu tiên đưa ra bảng định loại muỗi ở Việt Nam. Stojanovich và Scott (1966) nghiên cứu khu hệ muỗi ở Việt Nam, tác giả đ đưa ra bảng định loại và hệ thống toàn bộ khu hệ 6 muỗi của Việt Nam thời điểm năm 1966 có 169 loài thuộc 15 giống, trong đó giống Anopheles chiếm 41 loài, muỗi Culicinae chiếm 128 loài. Hƣơng xua muỗi trên Thế giới và Việt Nam 1. Hương xua muỗi trên thế giới Hương xua muỗi phát triển vào những năm 1890 bởi chuyên gia Nhật Bản tên Eiichiro Ueyanma.