ĐẶT VẤN ĐỀ Ung thư phổi là một loại bệnh gây ra bởi những khối u bắt nguồn từ nhu mô phổi.Đây là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong liên quan đến ung thư.Hiện tại ,trên thế giới có khoảng 2,2 triệu ca mắc mới (chiếm khoảng 11,4% tổng số ca mắc ung thư,đứng thứ 2) và khoảng 1,8 triệu ca tử vong (chiếm 18%,đứng hàng đầu).Tại Việt Nam có khoảng 26262 ca mắc mới(chiếm 14,2%,hàng thứ hai) và khoảng 23 797 ca tử vong (chiếm 19,4%,đứng hàng thứ hai).Tuy nhiên ,nhờ các tiến bộ trong phương pháp chẩn đoán,sàng lọc và điều trị nên tỉ lệ mắc mới và tử vong có thể giảm đi trong tương lai. Trong ung thư phổi có hai loại chính: -Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ (NSCLC) ,đây là loại ung thư phổi phổ biến nhất. -Ung thư phổi tế bào nhỏ(SCLC), chiếm khoảng 20% các trường hợp ung thư phổi[1]. Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì EGFR là một đích quan trong trong điều trị ung thư phổi ,đặc biệt là ung thư phổi không phải tế bào nhỏ.EGFR là một thành viên của thụ thể tyrosine kinase ERBB truyền tín hiệu kích thích tăng trưởng đến các tế bào đã được kích thích bởi phối tử EGFR.Trong các mô bình thường, sự sẵn có của các phối tử EGFR được quy định chặt chẽ để đảm bảo rằng động học của quá trình tăng sinh tế bào khớp chính xác với các yêu cầu của mô đối với cân bằng nội môi.
Tuy nhiên, trong bệnh ung thư, EGFR thường được kích thích liên tục do quá trình sản xuất bền vững các phối tử EGFR trong môi trường vi mô khối u.Vì vậy việc ức chế thụ thể EGFR là mục tiêu chính trong điều trị ung thư phổi.Một số dược chất đang được phát triển để tác động vào thụ thể này như erlotinib hay gefitinib[8]. Trên cơ sở đó,nhằm góp phần tìm kiếm các hợp chất tiềm năng giúp điều trị ung thư phổi ,đặc biệt là ung thư phổi không phải tế bào nhỏ và ức chế sự phơi nhiễm của các kim loại nặng,đề tài tiến hành với 2 mục đích chính: 1. Sàng lọc các hợp chất alcaloid có tác dụng ức chế thụ thể EGFR bằng phương pháp docking phân tử 2. Nghiên cứu các đặc điểm giống thuốc và tính toán các thông số dược động học và độc tính của các hợp chất tốt nhất thu được sau quá trình sàng lọc.Tổng quan về bệnh ung thƣ phổi không phải tế bào nhỏ 1.Đại cƣơng về ung thƣ phổi Ung thư phổi (tiếng Anh là Lung Cancer) là loại ung thư khởi phát từ phổi hay còn được gọi là khối u ác tính ở đường hô hấp.
Bệnh xảy ra khi một khối u ác tính hình thành trong phổi, phát triển nhanh về kích cỡ dẫn tới xâm lấn, chèn ép các cơ quan xung quanh. Ung thư bắt đầu trong phổi được gọi là ung thư phổi nguyên phát. Ung thư lan đến phổi từ một nơi khác trong cơ thể được gọi là ung thư phổi thứ phát.Có hai dạng chính của ung thư phổi nguyên phát. Chúng được phân loại theo loại tế bào mà ung thư bắt đầu phát triển.
Nó bao gồm: ● Ung thư phổi không phải tế bào nhỏ – dạng phổ biến nhất, chiếm khoảng 80 đến 85 trong số 100 trường hợp. Nó có thể là một trong ba loại: ung thư biểu mô tế bào vảy, ung thư biểu mô tuyến hoặc ung thư biểu mô tế bào lớn. ● Ung thư phổi tế bào nhỏ – một dạng ít phổ biến hơn thường lây lan nhanh hơn ung thư phổi không phải tế bào nhỏ[1]. Ung thư phổi là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế giới và là một trong những nguyên nhân gây tử vong cao trên thế giới.Trong năm 2020,trên thế giới có khoảng 2.2 triệu ca mắc mới.935 nghìn ca tử vong.Tỷ lệ mắc ung thư phổi ở nam cao gấp đôi nữ.Tỉ lệ mắc bệnh ở các nước đang phát triển cao hơn so với các nước phát triển[2].
Vào năm 2020,tại Việt Nam,có khoảng 26262 ca mắc mới và 23797 ca tử vong vào năm 2020.Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi đứng thứ hai,sau ung thư vú.Tỉ lệ mắc bệnh ung thư phổi ở độ tuổi 45 trở lên chiếm tỉ lệ cao.Ở nam giới,số ca tử vong do ung thư phổi đứng hàng thứ hai sau ung thư gan và ở nữ giới con số này đứng thứ hai sau ung thư vú[2]. Chẩn đoán sớm ung thư phổi là một trong những cách tốt nhất để giảm tỷ lệ tử vong do ung thư phổi.Các yếu tố tiên lượng quan trọng ảnh hưởng đến ung thư phổi bao gồm:giai đoạn bệnh,phương pháp điều trị và sức khỏe và thể trạng của người bệnh. Tỉ lệ sống 5 năm của bệnh nhân ung thư phổi chủ yếu phụ thuộc vào tình trạng bệnh hiện tại của bệnh nhân.Ở giai đoạn khu trú tỷ lệ sống của người bệnh trên 5 năm 3 chiếm khoảng 52%.Khi ung thư lan tới các hạch bạch huyết lân cận người bệnh sống được trên 5 năm chỉ còn chiếm tỷ lệ là 25%.Với trường hợp xuất hiện di căn xa thì tỷ lệ sống trên 5 năm của người bệnh lúc đó chỉ còn khoảng 4%.Nguyên nhân-Yếu tố nguy cơ Ung thư phổi không tế bào nhỏ được gây ra bởi nhiều nguyên nhân và yếu tố nguy cơ dưới đây: • Thuốc lá: ước tính 80 - 90% ung thư phổi liên quan đến thuốc lá. Nguy cơ ung thư phổi tăng theo thời gian và số lượng thuốc lá.
Một người hút một gói thuốc mỗi ngày có nguy cơ mắc ung thư phổi gấp 20 lần người không hút thuốc. Nguy cơ ung thư phổi do hút thuốc thụ động cũng được ghi nhận: người sống cùng nhà với người hút thuốc tăng 30% nguy cơ ung thư phổi so với người không cùng hoàn cảnh[3]. • Tiếp xúc amiăng: người hút thuốc có tiếp xúc amiăng có nguy cơ cao gấp 90 lần người không tiếp xúc. • Bụi phóng xạ và radon: làm tăng nguy cơ ung thư phổi, người tiếp xúc với mức độ radon cao tại nhà ở để mắc ung thư phổi • Nhiễm khuẩn: Siêu vi bướu nhú ở người (Human papillomavirus (HPV)) được quy cho là một nguyên nhân gây ung thư phổi.
Gần 25% ung thư phổi trên người không hút thuốc có thể liên quan đến HPV. Chứng đa bướu nhú tái diễn (Recurrent respiratory papillomatosis (RRP)) có thể gây ho, tắc nghẽn hô hấp mạn tính và thoái hóa ác tính. Nhiễm HPV 16/18 thường đi kèm đột biến p53. • Di truyền: một vài đột biến di truyền là yếu tố liên quan.
Đột biến T790M xảy ra trên tế bào mầm kèm theo ung thư biểu mô tuyến của phổi. • Ô nhiễm không khí: khói bụi trong không khí ô nhiễm có thể làm tăng nguy cơ mắc ung thư phổi, đặc biệt là ung thư biểu mô tuyến[1], [4], [5]. Tỷ lệ tử vong do ung thư phổi cao do bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn tiến xa nên cần tăng cường hiệu quả hoạt động tầm soát, phát hiện sớm ung thư phổi. Gần đây chụp cắt lớp điện toán xoắn ốc năng lượng thấp được chấp thuận như biện pháp tầm soát cho đối tượng nguy cơ cao (hút thuốc lá nhiều năm trên 30 gói/năm)[6].Điều trị ung thƣ phổi 4 1.Phẫu thuật Phẫu thuật là phương pháp điều trị triệt căn,đặc biệt là các trường hợp được chẩn đoán ung thư phổi giai đoạn sớm.Nguyên nhân là do các khối u còn quá nhỏ,chưa di căn và chưa ảnh hưởng đến sức khỏe của bệnh nhân nên vẫn có thể đáp ứng điều trị.
Sau khi phẫu thuật,khả năng chữa khỏi bệnh tăng cao.Đồng thời,tăng tỉ lệ sống sót của bệnh nhân trên 5 năm cao hơn.Tuy nhiên ,số trường hợp phát hiện sớm ung thư phổi thường rất thấp[1].Xạ trị Xạ trị là phương pháp điều trị đối với những trường hợp ung thư phổi giai đoạn II hoặc III ,do bệnh nhân không thể điều trị bằng phẫu thuật.Ở giai đoạn này bệnh nhân sử dụng các máy chiếu tia năng lượng cao(tia X,tia gamma,.) giúp tiêu diệt các tế bào ung thư. Tuy nhiên việc điều trị bằng xạ trị có thể gây ra các biến chứng sau vài ngày điều trị như : chán ăn,buồn nôn,rụng tóc,khô da,đau rát,viêm da,[1][7].Hóa trị Hóa trị là phương pháp điều trị đối với những trường hợp bệnh nhân ở giai đoạn muộn,lúc mà các tế bào ung thư đã lan rộng. Phương pháp này giúp tiêu diệt tế bào ung thư và ngăn chặn di căn.Phương pháp này thường được kết hợp với các phương pháp khác như phẫu thuật hoặc xạ trị.Thuốc được đưa vào cơ thể theo đường tĩnh mạch và nó có thể gây ra các tác dụng phụ:thiếu máu,buồn nôn,suy nhược cơ thể,rụng tóc,khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể suy giảm,.Điều trị đích ung thƣ phổi Bệnh ung thư,tiêu biểu là ung thư không phải tế bào nhỏ thường có liên quan đến đột biến gen.Vì vậy ,đây là một phương pháp giúp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách sử dụng các thuốc nhắm tới đích để tiêu diệt tế bào ung thư nhưng ít gây ảnh hưởng đến tế bào lành đồng thời ít gây tác dụng phụ.Dây cũng là một phương pháp giúp cải thiện thời gian sống và chất lượng của sống của bệnh nhân[5].Điều trị miễn dịch ung thƣ phổi 5 Đây là một phương pháp giúp tạo miễn dịch thụ động của bệnh nhân bằng cách phát hiện các điểm kiểm soát tế bào ung thư.Tuy nhiên giá của các loại thuốc này thường rất cao. Ngoài ra bệnh nhân có thể sử dụng một số biện pháp hỗ trợ khác trong điều trị như:massage,châm cứu,sử dụng thảo dược hoặc các tinh dầu,.Tổng quan về thụ thể EGFR 1.Sơ lƣợc về thụ thể EGFR Thụ thể yếu tố tăng trưởng biểu bì(EGFR) là một thành viên của siêu họ ERBB của thụ thể tyrosine kinase (RTK) - là các protein xuyên màng được kích hoạt sau khi gắn yếu tố tăng trưởng peptid thuộc họ protein EGF.Tất cả các protein thuộc họ này đều có miền liên kết phối tử ngoại bào, miền xuyên màng kỵ nước đơn và miền chứa tyrosine kinase tế bào chất và miền quy định đầu cuối C.
Miền tyrosine kinase nội bào của các thụ thể ErbB được bảo tồn cao.Miền ngoại bào được chia nhỏ hơn nữa thành bốn miền. Miền tyrosine kinase bao gồm một thùy N và một thùy C, và ATP liên kết với khe hở hình thành giữa hai thùy này. Miền điều hòa đầu cuối C có một số gốc tyrosine được phosphoryl hóa đặc biệt khi liên kết phối tử[9]–[12].Cấu trúc protein EGFR (A), kích hoạt (B) và giảm dần bằng liên kết phối tử Mười một phối tử được biết là liên kết với họ thụ thể ERBB.