Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu Chương 2: Hôn nhân của người Việt theo Công giáo Chương 3: Hôn nhân của người Việt không theo Công giáo và một số trường hợp hôn nhân khác Chương 4: Xu hướng biến đổi, những vấn đề đặt ra và những khuyến nghị 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Nghiên cứu về hôn nhân - Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài Hôn nhân luôn giữ vai trò quan trọng trong đời sống của các tộc người bởi đó là tiền đề hình thành và phát triển một gia đình với các chức năng cơ bản của nó. Từ thời cổ đại, vấn đề hôn nhân và gia đình đã được rất nhiều học giả quan tâm, song việc nghiên cứu sâu về hôn nhân và gia đình phải đến thế kỷ XIX mới được bắt đầu.
Trong tác phẩm kinh điển Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước, Ph.Ăngghen cho rằng, lịch sử nghiên cứu hôn nhân và gia đình bắt đầu từ năm 1861, khi Johann Jakop Bachofen viết tác phẩm Mẫu quyền. Lúc đầu loài người sống trong tình trạng tạp hôn, con cái sinh ra không biết cha mà chỉ biết mẹ, tổ chức xã hội đầu tiên theo mẫu hệ rồi mới chuyển sang phụ hệ. Như vậy, thiết chế xã hội đầu tiên của loài người là mẫu quyền. Tiếp theo, John Ferguson McLennan đã khám phá ra thiết chế ngoại hôn – một loại hình thiết chế hôn nhân mang tính phổ biến của nhân loại được đề cập trong tác phẩm Nghiên cứu lịch sử cổ đại – hôn nhân nguyên thủy xuất bản năm 1866.
Theo thiết chế này, cấm những nam nữ trong cùng một nhóm chung huyết thống được lấy nhau mà chỉ được kết hôn với những người không cùng huyết thống ở các nhóm khác. Bước tiến tiếp theo trong nghiên cứu về hôn nhân phải kể đến công trình nghiên cứu của Lewis Henry Morgan, nhà dân tộc học người Mỹ. Trong cuốn Xã hội cổ đại, ông đã dựng lại lịch sử tiến hóa của hôn nhân và gia đình của loài người thông qua các hình thái: gia đình huyết tộc (Consanguine family), gia đình punalua (Punaluan family), gia đình một vợ một chồng (Monogamian family), gia đình đối ngẫu (Syndyasmian family) và gia đình phụ quyền (Patriarchal 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com family), với các hình thái hôn nhân: hôn nhân tập thể, theo nhóm, hay quần hôn và hôn nhân cá thể, giữa hai hình thái hôn nhân đó có một hình thái quá độ là hôn nhân đối ngẫu. Năm 1884, dựa trên những đúc kết kinh nghiệm và kế thừa nhiều luận điểm của những nhà nghiên cứu trước, Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước, đã phân tích, làm rõ hơn các giai đoạn phát triển của gia đình, các hình thức hôn nhân gắn với các giai đoạn lịch sử.Ăngghen: “có ba hình thức hôn nhân chính, tương ứng về đại thể với ba giai đoạn phát triển chính của nhân loại.
Ở thời đại mông muội, có chế độ quần hôn; ở thời đại dã man, có chế độ hôn nhân cặp đôi; ở thời đại văn minh, có chế độ một vợ một chồng được bổ sung bằng tệ ngoại tình và nạn mại dâm” [10, tr. Tiếp sau Ph. Ăngghen, nhiều học giả đã đi sâu nghiên cứu các quan điểm, lý thuyết về hôn nhân và gia đình, hoặc là các hình thái hôn nhân của từng tộc người cụ thể. Đặc biệt trong những thập niên gần đây, nhiều nhà khoa học thuộc các chuyên ngành như: Nhân học, xã hội học, văn hóa học, tâm lý học,.
ở các nước Tây Âu, Châu Mỹ và Châu Á đã tiếp cận và đạt được những thành tựu về mặt lý thuyết, phương pháp luận nghiên cứu về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, quan điểm về hôn nhân và gia đình của Ph.Ăngghen trên góc độ kế thừa quan điểm về sự tiến hóa của hôn nhân và gia đình của Lewis Henry Morgan trong thời gian qua đã và đang có những tranh cãi từ các nhà khoa học trong và ngoài nước khi nghiên cứu về vấn đề gia đình huyết tộc và gia đình punalua. - Nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về hôn nhân ở Việt Nam. Tác giả Shaun Kingsley Malarney (2002) trong công trình Culture, Ritual, and Revolution in Viet Nam (Văn hóa, Nghi lễ và Cuộc cách mạng ở Việt Nam), đã tiến hành nghiên cứu về sự thay đổi văn hóa và nghi lễ ở Việt Nam dưới tác động của các chính sách của Nhà nước về văn hóa từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, với trường hợp nghiên cứu điểm tại xã Thịnh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội.
Tác giả cuốn sách đã dành một chương trình bày về đám cưới của người Việt với những nghi lễ cơ bản trong đám cưới cũng như 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sự thay đổi trong hôn nhân ở làng từ sau năm 1954 đến thời điểm nghiên cứu - những năm 1990. Nghiên cứu cho thấy, do chính sách cải cách trong lĩnh vực văn hóa được thực hiện từ ngay sau Cách mạng Tháng Tám, hôn nhân và nghi lễ hôn nhân của người Việt đã thay đổi rất nhiều: hôn nhân sắp đặt, hiện tượng đa thê biến mất; độ tuổi kết hôn ngày càng tăng; tục thách cưới giảm dần; phong tục nhà trai dẫn lễ thực phẩm sang nhà gái để làm cỗ và nhà gái không nhận tiền mừng cũng dần bị loại bỏ… Tuy nhiên, khi phân tích những điểm tích cực và hạn chế trong hôn nhân của người Việt từ sau Cách mạng tháng Tám, tác giả phát hiện ra rằng, mặc dù đã có những cải thiện rõ rệt về địa vị của người phụ nữ trong hôn nhân, nhưng trong thực tế họ vẫn phải đối mặt với nhiều rào cản và bất bình đẳng, chẳng hạn như vấn đề trinh tiết của người phụ nữ khi kết hôn vẫn còn đặt ra, việc phải làm dâu khi cư trú bên chồng tạo ra nhiều áp lực hay những thiệt thòi sau khi ly hôn,. Công trình nghiên cứu Tradition and Change in Vietnamese Family Structure in the Red River Delta (Truyền thống và Biến đổi trong cấu trúc gia đình Việt Nam ở đồng bằng châu thổ sông Hồng) của Charles Hirschman và Nguyễn Hữu Minh (2002), đã tập trung phân tích sự biến đổi trong gia đình truyền thống của người Việt, trong đó có vấn đề hôn nhân. Nghiên cứu cho rằng, hôn nhân của người Việt ở đồng bằng châu thổ sông Hồng đã có sự thay đổi rõ rệt từ quan niệm chọn bạn đời đến độ tuổi kết hôn, lễ vật và cách tổ chức đám cưới.
Cuốn sách Confucianism and the Family (Nho giáo và Gia đình) của Walter H. De Vos (1998) đã đề cập những ảnh hưởng của Nho giáo đến các gia đình phương Đông, trong đó có Việt Nam. Nho giáo đã từng là hệ tư tưởng chủ đạo trong thời kỳ phong kiến Việt Nam, vì vậy nó có ảnh hưởng rõ rệt đến văn hóa gia đình Việt Nam. Các quan niệm về hôn nhân, một số lễ nghi trong hôn nhân của người Việt đều có bóng dáng của đạo Khổng.
Tác giả Lương Văn Hy (2010) trong cuốn Tradition, Revolution, and Market Economy in a North Vietnamese Village, 1925–2006 (Truyền thống, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cách mạng và kinh tế thị trường ở một làng miền Bắc Việt Nam, 1925 – 2006), đã nghiên cứu tìm hiểu các tập tục cưới xin ở xã Sơn Dương, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ từ sau Cách mạng tháng Tám. Tác giả cho rằng, với một số chính sách đổi mới của chính quyền địa phương trong việc tổ chức lễ cưới, như xây dựng hội trường làm nơi tổ chức cưới hỏi chung cho cộng đồng để giảm thiểu quy mô cỗ cưới nhưng kết quả đã không đạt được theo mục tiêu đề ra. Tác giả đi sâu phân tích các đám cưới tại đây từ việc tổ chức đám cưới, chi phí đám cưới của hai bên gia đình, số lượng khách mời, số mâm cỗ, đến việc mừng cưới của khách mời. Qua đó thấy được sự biến đổi của đám cưới theo xu hướng phục hồi và tăng cường nghi lễ truyền thống trong thời kỳ Đổi mới.
Nhà nghiên cứu John Kleinen (2007) trong cuốn Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ, cũng đã đề cập đến hôn sự và lễ cưới ở một làng miền Bắc Việt Nam. Tác giả chỉ ra thói quen thích lấy người cùng làng ở miền Bắc Việt Nam mang tính cục bộ trong chủ nghĩa làng - xã trong quá khứ đồng thời cũng miêu tả một cách cụ thể các trình tự đám cưới ở một ngôi làng Việt ở vùng Hà Đông (Hà Tây trước đây). Theo tác giả, nhiều nghi lễ và tập tục truyền thống vẫn được duy trì nhưng đã có sự thay đổi và cải biến về mặt nội dung trong đó. Cũng như các nghi lễ vòng đời khác, nghi lễ hôn nhân phản ánh sự quan trọng của dòng họ và cộng đồng làng xã nơi đây.
Trong Hội thảo Quốc tế Nhân học về Việt Nam: Hiện đại và động thái truyền thống ở Việt Nam: Cách tiếp cận Nhân học do Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh và Đại học Toronto, Canada đồng tổ chức từ ngày 15 - 18/12/2007 tại Bình Châu, Bà Rịa - Vũng Tàu, nhiều học giả, nhà nghiên cứu nước ngoài đã đưa ra những quan điểm, cách tiếp cận mới về văn hóa Việt Nam, trong đó có vấn đề về hôn nhân và gia đình như học giả Alexander Soucy với bài viết Mời cưới ở Hà Nội và quản lý các mối quan hệ. Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống một cách rõ ràng cách thức mời cưới của người Hà Nội chia theo từng vùng: vùng thân thiết, vùng có thể tin cậy được, vùng có ảnh hưởng và vùng ngoại vi và thực dụng. Tương 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ứng với mỗi vùng sẽ có những cách mời cưới khác nhau và quà tặng khác nhau. Theo Alexander Soucy, đám cưới cũng là dịp để duy trì củng cố các mối quan hệ và cũng là cơ hội để loại bỏ hoặc giảm tầm quan trọng của những mối quan hệ không quan trọng.
Olivier Tessier trong nghiên cứu về “Giúp đỡ” và tương trợ trong cộng đồng làng quê ở miền Bắc Việt Nam: quan hệ giữa tình đoàn kết và sự phụ thuộc lại đề cập đến khía cạnh tương trợ giúp đỡ nhau trong cộng đồng người Việt khi gia đình có công việc như xây nhà, cưới hỏi.