Tổng quan luận án

Công trình khoa học "Hôn nhân của người Việt ở xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định" được tác giả Đặng Thị Hải Hằng thực hiện dưới dạng Luận án Tiến sĩ ngành Nhân học (mã số 9 31 03 02) tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2022, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Song Hà và PGS. Phạm Quang Hoan.

Về tính cấp thiết, tác giả xác định hôn nhân là sự kiện hệ trọng trong vòng đời con người, là tiền đề cấu thành gia đình và duy trì chức năng xã hội của các tộc người. Tại Việt Nam, dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường, quá trình hội nhập quốc tế, mạng lưới truyền thông và hệ thống pháp luật, đời sống hôn nhân của người Việt đang trải qua nhiều biến đổi sâu sắc. Thực tế ghi nhận xu hướng sống độc thân, tỷ lệ ly hôn, ly thân gia tăng, cùng sự xuất hiện của các hình thái hôn nhân mới tác động trực tiếp đến tính bền vững của thiết chế gia đình. Địa bàn xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định là môi trường cộng cư lâu đời của hai cộng đồng người Việt: người Việt theo Công giáo và người Việt không theo Công giáo (chiếm tỷ lệ lần lượt là 53% và 47%). Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra là sự thiếu vắng các công trình nhân học chuyên sâu, toàn diện khảo sát sự tương tác, tương đồng, khác biệt và biến đổi trong quan niệm và thực hành nghi lễ hôn nhân giữa hai nhóm cư dân khác tôn giáo trong cùng một không gian hành chính cấp xã tại đồng bằng sông Hồng.

Mục đích nghiên cứu của luận án gồm ba nội dung chính:

  1. Làm rõ bức tranh thực trạng hôn nhân của người Việt tại xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định trong bối cảnh đổi mới và hội nhập.
  2. Làm rõ các nguyên nhân tác động, xu hướng biến đổi và những vấn đề đang đặt ra trong đời sống hôn nhân của người Việt (theo Công giáo và không theo Công giáo) tại địa phương.
  3. Cung cấp hệ thống tư liệu khoa học mới, đóng góp luận cứ khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng, thực thi các chính sách quản lý nhà nước liên quan đến hôn nhân, gia đình và khối đại đoàn kết lương - giáo ở cơ sở.

Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định qua bốn khâu:

  1. Tổng quan các nguồn tài liệu, công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến hôn nhân của người Việt Công giáo và không Công giáo để xác định rõ khoảng trống khoa học.
  2. Hệ thống hóa các khái niệm công cụ và khung lý thuyết nhân học làm cơ sở phân tích nội dung đề tài.
  3. Thực hiện nghiên cứu điền dã dân tộc học tại địa bàn để thu thập dữ liệu định tính và định lượng về hôn nhân của người dân xã Thọ Nghiệp.
  4. Tổng hợp, xử lý và phân tích nguồn dữ liệu nhằm làm rõ thực trạng, chỉ ra điểm tương đồng, dị biệt, xu hướng biến đổi và đề xuất các khuyến nghị nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hôn nhân của người Việt theo Công giáo và người Việt không theo Công giáo tại xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
  • Phạm vi nội dung: Luận án tập trung vào quan niệm về hôn nhân và việc thực hành các nghi lễ đám cưới trong trường hợp thông thường; xu hướng biến đổi; các giá trị văn hóa và những vấn đề đặt ra trong hôn nhân.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định với tổng diện tích tự nhiên 708,54 ha (đất nông nghiệp 514,91 ha, đất phi nông nghiệp 193,46 ha), quy mô 3.553 hộ với 13.677 nhân khẩu phân bố trên 23 xóm.
  • Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát thực địa và tập trung dữ liệu chủ yếu từ năm 2015 đến thời điểm hoàn thành nghiên cứu (năm 2020).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo các nhóm công trình trong nước và quốc tế về hôn nhân nói chung và hôn nhân Công giáo nói riêng:

Về các nghiên cứu hôn nhân của học giả nước ngoài:

  • Các nghiên cứu lý thuyết kinh điển: Tác phẩm Mẫu quyền (1861) của Johann Jakop Bachofen đặt nền móng nghiên cứu lịch sử gia đình từ trạng thái tạp hôn tiến lên thiết chế mẫu quyền. John Ferguson McLennan với công trình Nghiên cứu lịch sử cổ đại – hôn nhân nguyên thủy (1866) phát hiện thiết chế ngoại hôn ngăn cấm hôn nhân cùng huyết thống. Lewis Henry Morgan trong tác phẩm Xã hội cổ đại dựng lại tiến trình năm hình thái gia đình (huyết tộc, punalua, đối ngẫu, phụ quyền, một vợ một chồng). Ph.Ăngghen trong tác phẩm Nguồn gốc của gia đình, của sở hữu tư nhân và của nhà nước (1884) tổng kết ba hình thức hôn nhân chính tương ứng với ba thời đại mông muội, dã man và văn minh.
  • Các nghiên cứu về Việt Nam: Shaun Kingsley Malarney (2002) với công trình Culture, Ritual, and Revolution in Viet Nam khảo sát sự biến đổi nghi lễ cưới hỏi tại xã Thịnh Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) dưới tác động của chính sách văn hóa từ sau năm 1945. Charles Hirschman và Nguyễn Hữu Minh (2002) nghiên cứu cấu trúc gia đình và hôn nhân ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Walter H. De Vos (1998) trong Confucianism and the Family phân tích ảnh hưởng của Nho giáo đối với quan niệm giá thú phương Đông. Lương Văn Hy (2010) khảo sát tập tục cưới hỏi tại xã Sơn Dương (Phú Thọ) và vấn đề quà mừng, vốn xã hội tại Hoài Thị và Khánh Hậu. John Kleinen (2007) phân tích tính cục bộ làng xã và trình tự đám cưới ở vùng Hà Đông qua tác phẩm Làng Việt đối diện tương lai hồi sinh quá khứ. Alexander Soucy (2007) phân tích mạng lưới mời cưới tại Hà Nội; Olivier Tessier (2007) nghiên cứu sự tương trợ cộng đồng làng quê miền Bắc trong việc cưới.

Về các nghiên cứu hôn nhân của học giả trong nước:

  • Khảo tả phong tục và biến đổi nghi lễ: Diệp Đình Hoa (2006) trong Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ; Trương Thìn (2010) với Những điều cần biết về nghi lễ hôn nhân người Việt; Bùi Xuân Mỹ và Phạm Minh Thảo (2006) với Tục cưới hỏi ở Việt Nam; Băng Sơn, Cẩm Thủy, Mai Ly (1999) trong Cưới hỏi ngày nay; Phan Kế Bính (2005) với Việt Nam phong tục; Đoàn Văn Chúc (1997) với Văn hóa học; Bùi Xuân Đính trong công trình do Vương Xuân Tình chủ biên (2020).
  • Biến đổi hôn nhân dưới tác động đô thị hóa và hội nhập: Nguyễn Thị Phương Châm (2006) nghiên cứu hôn nhân người Kinh ở Vạn Vĩ (Trung Quốc); Hoàng Bá Thịnh (2008) về hôn nhân Việt - Hàn; Trần Thị Hồng Yến (2013) nghiên cứu làng Trung Kính Thượng; Nguyễn Thị Phương Châm và Đỗ Lan Phương (2016) nghiên cứu làng Xuân Đỉnh; Phạm Võ Quỳnh Hạnh (2019); Phan Thị Mai Hương, Nguyễn Hữu Minh, Phạm Phương Thảo, Đỗ Thị Lệ Hằng (2020) nghiên cứu sự hài lòng hôn nhân.

Về các nghiên cứu hôn nhân Công giáo:

  • Nghiên cứu quốc tế: Catherine Bell (2009) trong Ritual theory, Ritual Practice bàn về bản chất nghi lễ; Laurel Kendall (1996) với Getting Married in Korea; Donald H. nghiên cứu hôn nhân hỗn hợp tôn giáo.
  • Nghiên cứu tại Việt Nam: Các tài liệu mục vụ và giáo luật của Hồng y Phạm Minh Mẫn (2009), Linh mục Augustinô Nguyễn Văn Dụ (2006), Tòa giám mục Xuân Lộc (2006), Linh mục Nguyễn Hữu Triết (1997), Hương Việt (2003), Phao-lô Nguyễn Bình Tĩnh và Linh mục Xuân Bích (1998), Hội đồng Giám mục Việt Nam (2004, 2005, 2007, 2014), Phạm Thị Oanh (2003). Về nghiên cứu học thuật có luận án tiến sĩ của Lê Đức Hạnh (2011) về hôn nhân và nếp sống Đạo tại Giáo họ Nỗ Lực (Phú Thọ); Đỗ Thị Ngọc Anh (2015); Vũ Thị Thanh Tâm (2017) tại giáo xứ Kẻ Sặt; Vũ Thị Hà (2018).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát nghi lễ hôn nhân người Việt truyền thống hoặc nghiên cứu hôn nhân Công giáo riêng lẻ tại một giáo họ, giáo xứ đơn lập. Chưa có công trình nhân học nào đi sâu đối sánh trực tiếp giữa người Công giáo và người không Công giáo cùng cư trú trong một đơn vị làng xã nông thôn đồng bằng sông Hồng để làm rõ sự giao thoa, tiếp biến và các ranh giới văn hóa trong quan niệm, hành vi và nghi thức giá thú.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung khái niệm và lý thuyết tiếp cận

Tác giả xác lập hệ thống khái niệm công cụ gồm:

  • Người Việt: Tiếp cận theo nghĩa tộc danh người Kinh, chiếm đa số dân số tại Việt Nam.
  • Người Việt theo Công giáo: Nhóm cư dân người Việt có đức tin Kitô giáo, tuân thủ giáo lý, giáo luật của Giáo hội Công giáo Rôma.
  • Người Việt không theo Công giáo: Nhóm cư dân người Việt thực hành các tín ngưỡng dân gian truyền thống (thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng làng, thờ Thần) và sinh hoạt nghi lễ Phật giáo nhưng chưa làm thủ tục quy y tam bảo.
  • Hôn nhân và nghi lễ hôn nhân: Tiếp cận khái niệm qua các định nghĩa của E. Adamson Hoebel (2007), Đoàn Văn Chúc (1997), Emily A. Schultz và Robert H. Lavenda (2001), Từ điển Nhân học và Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Hôn nhân được xác định là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ, được công nhận về mặt pháp lý qua đăng ký kết hôn và công nhận về mặt xã hội qua nghi lễ đám cưới truyền thống, tôn giáo.
  • Hôn nhân Công giáo: Được định nghĩa là Bí tích Hôn phối do Thiên Chúa thiết lập mang đặc tính đơn hôn và vĩnh hôn.
  • Hôn nhân hỗn hợp, Ly hôn và Gia đình: Định nghĩa dựa trên Giáo luật và Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Luận án vận dụng hai lý thuyết nhân học chủ đạo:

  1. Lý thuyết chức năng: Dựa trên nền tảng chức năng luận của Émile Durkheim, chức năng tâm lý của Bronislaw Malinowski và cấu trúc - chức năng của Alfred R. Radcliffe-Brown. Lý thuyết này được sử dụng để phân tích các chức năng xã hội của hôn nhân: chức năng tái sản xuất con người duy trì nòi giống; chức năng cố kết dòng họ, cộng đồng làng xã; và chức năng bảo lưu, chuyển giao các giá trị văn hóa giữa các thế hệ tại đồng bằng sông Hồng.
  2. Lý thuyết giao lưu, tiếp biến văn hóa: Được sử dụng để giải thích quá trình tương tác, vay mượn, thích nghi và biến đổi các yếu tố văn hóa giá thú giữa hai cộng đồng Công giáo và không Công giáo cùng chung sống tại xã Thọ Nghiệp dưới tác động của kinh tế thị trường và hiện đại hóa.

Phương pháp nghiên cứu thực địa

Nghiên cứu kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử với các phương pháp thu thập dữ liệu định tính và định lượng:

  • Phương pháp điền dã dân tộc học:
    • Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham dự các hôn lễ tại tư gia và thánh lễ hôn phối tại nhà thờ; ghi nhận các trường hợp thực tế như đám cưới Nguyễn Thị Hường (Công giáo) và Mai Thanh Tùng (không Công giáo) vào tháng 12/2016; Nguyễn Tiến Mạnh và Xuân Quỳnh (cùng Công giáo) vào tháng 11/2018; Đặng Bảo và Nguyễn Thị Mai (cùng không Công giáo) vào tháng 11/2019.
    • Phỏng vấn sâu: Thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu với các nhóm đối tượng: người cao tuổi, cha mẹ có con đến tuổi kết hôn, các cặp đôi chuẩn bị cưới, các trường hợp kết hôn khác tôn giáo, chức sắc tôn giáo (như trùm xóm) và cán bộ chính quyền địa phương.
    • Thảo luận nhóm: Tổ chức các cuộc thảo luận nhóm tập trung phân theo độ tuổi, giới tính và nhóm tôn giáo (đơn nhất và hỗn hợp) xoay quanh các chủ đề: giáo luật, quan hệ tình dục trước hôn nhân, hôn nhân cận huyết, việc đăng ký kết hôn, quan hệ mẹ chồng nàng dâu và nuôi dạy con cái.
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi: Thiết kế phiếu khảo sát gồm các nội dung về tiêu chí chọn bạn đời, quyền quyết định hôn nhân, nghi lễ, nơi cư trú sau cưới, quan niệm ly hôn và mang thai trước hôn nhân. Tổng số 400 phiếu được phát ra tại 23 xóm (mỗi xóm từ 15 đến 20 phiếu); sau khi làm sạch thu về 306 phiếu hợp lệ (gồm 172 phiếu từ nhóm không Công giáo và 134 phiếu từ nhóm Công giáo). Số liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm SPSS.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, tham vấn chuyên gia: Khai thác hồ sơ hộ tịch, báo cáo kinh tế - xã hội địa phương kết hợp ý kiến các chuyên gia nhân học, tôn giáo học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và khái quát về địa bàn nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa tình hình nghiên cứu lý luận, các khái niệm, khung phân tích chức năng - tiếp biến văn hóa và bức tranh toàn diện về địa bàn nghiên cứu. Về mặt lịch sử, xã Thọ Nghiệp hình thành từ thế kỷ XV dưới thời vua Lê Thánh Tông thông qua công cuộc khai hoang lập ấp của các dòng họ Phạm, Nguyễn, Ngô, Đỗ, Đặng, Đinh, Trần, Lê từ Hải Dương, Hà Nội, Ninh Bình đến khai phá, dựng nên các làng Thiên Thiện, Trà Thủy, Lạc Nghiệp, Nhân Thọ. Đến cuối thế kỷ XVII, đạo Công giáo thâm nhập vào làng Quần Cống rồi lan sang Nghiệp Đạt, Nghiệp Đoài, Nghiệp Thổ, Đa Cốt.

Hiện nay xã có 23 xóm, trong đó 10 xóm Công giáo toàn tòng, 11 xóm không Công giáo và 2 xóm xen kẽ. Dân số 100% là người Kinh. Về kinh tế, xã chuyển dịch mạnh mẽ từ thuần nông sang phát triển tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và vận tải taxi ("làng taxi"). Thu nhập bình quân đầu người năm 2019 đạt 49,26 triệu đồng/năm. Toàn xã đạt 19 tiêu chí nông thôn mới. Cơ sở hạ tầng tâm linh gồm 8 nhà thờ, 1 tu viện Công giáo và 4 ngôi chùa Phật giáo.

Bảng 1: Các công ty, quỹ tín dụng trên địa bàn xã Thọ Nghiệp

Loại hình công ty Số lượng
Công ty tư nhân 2
Công ty trách nhiệm hữu hạn 20
Công ty cổ phần 9
Quỹ tín dụng và Hợp tác xã 3
Tổng 34

Chương 2: Hôn nhân của người Việt theo Công giáo

Chương 2 phân tích hôn nhân Công giáo dưới góc độ Bí tích Hôn phối, đặc tính duy nhất (đơn hôn) và bất khả phân ly (vĩnh hôn) căn cứ theo Giáo luật điều 1055. Hôn nhân Công giáo đề cao sự tự do ưng thuận tuyệt đối của đôi nam nữ trước Thiên Chúa. Quyền quyết định hôn nhân thuộc về cá nhân kết hôn, cha mẹ chỉ mang tính chất tư vấn định hướng.

Bảng 2: Quyền quyết định trong hôn nhân Công giáo

Nội dung Số lượng Tỷ lệ (%)
Cha - mẹ quyết định hoàn toàn 0 0,0
Cha - mẹ quyết định có hỏi ý kiến của con cái 0 0,0
Tự bản thân quyết định hoàn toàn 49 36,6
Tự bản thân quyết định có hỏi ý kiến của cha - mẹ 85 63,4
Dòng họ quyết định 0 0,0
Tổng 134 100,0

Về hôn nhân khác tôn giáo, giáo luật hiện hành không ngăn cấm tuyệt đối mà quy định chuẩn miễn ngăn trở với điều kiện bên Công giáo không bị nguy cơ mất đức tin và cam kết rửa tội, giáo dục con cái theo đạo. Kết quả điều tra thực nghiệm cho thấy sự cởi mở hoàn toàn trong nhận thức của tín đồ địa phương:

Bảng 3: Quan niệm về hôn nhân khác tôn giáo của người Công giáo

STT Quan điểm Số lượng Tỷ lệ (%)
1 Có thể chấp nhận được 134 100,0
2 Không thể chấp nhận 0 0,0
Tổng 134 100,0

Về quan hệ tình dục và chung sống trước hôn nhân: Giáo lý Hội thánh Công giáo điều 2353 và điều 2390 nghiêm cấm hành vi quan hệ ngoài hôn nhân, coi đó là tội gian dâm làm tổn hại phẩm giá hôn nhân và bị đình chỉ quyền rước lễ. Tuy nhiên, dữ liệu điền dã phản ánh sự xung đột thực tế khi một bộ phận giới trẻ Công giáo chịu ảnh hưởng của lối sống hiện đại vẫn phát sinh quan hệ trước hôn nhân, sau đó sử dụng Bí tích Giải tội trước khi cử hành hôn phối tại nhà thờ. Về nghi lễ, người Công giáo Thọ Nghiệp thực hiện song hành hai cấu trúc: thánh lễ hôn phối tại nhà thờ (nghi thức tôn giáo bắt buộc) và các nghi lễ cưới truyền thống của người Việt tại gia đình (chạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu).

Chương 3: Hôn nhân của người Việt không theo Công giáo và một số trường hợp hôn nhân khác

Chương 3 khảo sát thực hành giá thú của cộng đồng 47% dân số không theo Công giáo, cùng các dạng thức hôn nhân hỗn hợp và hôn nhân có yếu tố nước ngoài:

  • Quan niệm và nghi lễ: Người không theo Công giáo chịu ảnh hưởng sâu đậm từ Nho giáo và tín ngưỡng dân gian. Việc chọn bạn đời gắn với việc xem tuổi xung - hợp, chọn ngày giờ lành, coi trọng vai trò định đoạt và đồng thuận của cha mẹ hai bên. Trình tự nghi lễ tuân thủ chặt chẽ truyền thống đồng bằng Bắc Bộ (chạm ngõ, ăn hỏi, lễ cưới, lại mặt), gắn liền với nghi thức dâng hương báo cáo tổ tiên tại bàn thờ gia tiên.
  • Hôn nhân giữa người Công giáo và không Công giáo: Thường phát sinh sự đàm phán văn hóa về mặt nghi thức. Người không theo đạo thường tham gia các lớp học giáo lý hôn nhân để hôn lễ được cử hành hợp thức tại nhà thờ, đồng thời lễ gia tiên tại tư gia vẫn được tiến hành song song.
  • Hôn nhân có yếu tố nước ngoài: Xuất hiện tại Thọ Nghiệp chủ yếu là phụ nữ kết hôn với người nước ngoài (Đài Loan, Hàn Quốc...) xuất phát từ mục tiêu cải thiện kinh tế gia đình.
  • So sánh tương đồng và khác biệt: Điểm tương đồng là cả hai nhóm đều gìn giữ các nghi lễ truyền thống của người Việt, coi trọng bữa cỗ liên hoan cộng đồng làng xóm và việc đăng ký kết hôn theo pháp luật. Khác biệt cốt lõi thể hiện ở chế định ly hôn (người Công giáo không chấp nhận ly hôn vì đặc tính vĩnh hôn của Bí tích Hôn phối, trong khi người không Công giáo chấp nhận ly hôn khi đời sống chung không thể kéo dài) và tính chất thánh thiêng của việc cử hành lễ cưới tại nhà thờ.

Chương 4: Xu hướng biến đổi, những vấn đề đặt ra và khuyến nghị

Chương 4 chỉ ra các xu hướng biến đổi chính trong đời sống hôn nhân tại xã Thọ Nghiệp từ năm 2015 đến năm 2020:

  • Biến đổi về độ tuổi và quan niệm: Độ tuổi kết hôn trung bình có xu hướng tăng lên; việc đăng ký kết hôn tại Ủy ban Nhân dân xã được thực hiện nền nếp trước hoặc song song với lễ cưới truyền thống/tôn giáo. Giới trẻ nắm quyền chủ động tuyệt đối trong tìm hiểu và chọn bạn đời, tiêu chí hướng về tình cảm và sự hòa hợp nghề nghiệp thay vì sự sắp đặt gia đình.
  • Biến đổi về quy mô tổ chức: Hình thức tổ chức đám cưới chịu tác động của kinh tế phát triển (làng taxi, doanh nghiệp tư nhân phát triển). Quy mô tiệc cưới mở rộng, xuất hiện tình trạng phô trương cỗ bàn, gia tăng gánh nặng kinh tế cho gia đình và khách mừng cưới.
  • Các vấn đề đặt ra:
    • Hiện tượng quan hệ tình dục và mang thai trước hôn nhân có chiều hướng gia tăng, tạo áp lực lên giáo luật và nếp sống truyền thống.
    • Tình trạng ly hôn, ly thân xuất hiện và có xu hướng tăng ở cả hai nhóm dân cư do mâu thuẫn lối sống, áp lực kinh tế và di lưu lao động.
    • Xung đột văn hóa tiềm ẩn trong các cuộc hôn nhân hỗn hợp tôn giáo về việc thực hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên và giáo dục đức tin cho con cái.
  • Hệ thống khuyến nghị:
    1. Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về tư pháp, hộ tịch, bảo đảm thực thi nghiêm Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
    2. Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa mới gắn với xây dựng nông thôn mới nâng cao, vận động nhân dân bài trừ hủ tục phô trương, lãng phí trong tiệc cưới.
    3. Phát huy vai trò tích cực của các chức sắc tôn giáo, ban hành giáo và các đoàn thể cơ sở trong công tác hòa giải gia đình, củng cố khối đại đoàn kết lương - giáo tại địa phương.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt khoa học lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận và khoa học: Đây là công trình chuyên khảo nhân học đầu tiên tiếp cận một cách hệ thống, đa diện và đối sánh trực tiếp về thực trạng hôn nhân của hai cộng đồng người Việt (theo Công giáo và không theo Công giáo) cùng cộng cư trong một không gian làng xã cụ thể tại vùng đồng bằng sông Hồng. Luận án làm sáng tỏ cơ chế giao lưu, tiếp biến văn hóa và sự tương tác giữa Giáo luật Công giáo, luật tục làng xã và Luật Hôn nhân và Gia đình của Nhà nước Việt Nam.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn: Công trình cung cấp bộ dữ liệu thực địa cập nhật (kết hợp số liệu điều tra bảng hỏi 306 mẫu và 30 phỏng vấn sâu) phản ánh trung thực thực trạng hôn nhân, đời sống gia đình và các xung đột văn hóa nảy sinh tại cơ sở. Kết quả này cung cấp luận cứ khoa học tin cậy cho cấp ủy, chính quyền huyện Xuân Trường và tỉnh Nam Định trong việc hoạch định chính sách dân tộc, tôn giáo, nâng cao nếp sống văn minh nông thôn mới và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Căn cứ vào phạm vi và nội dung trình bày trong văn bản:

  • Hạn chế: Nghiên cứu được giới hạn thực địa tại một địa bàn cấp xã (xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định) trong khung thời gian từ năm 2015 đến năm 2020. Luận án chỉ tập trung vào quan niệm và thực hành các nghi lễ đám cưới trong các trường hợp thông thường, chưa bao quát sâu các biến thể hôn nhân đặc biệt hoặc mở rộng đối sánh trên bình diện toàn vùng châu thổ Bắc Bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tác giả chỉ ra sự cần thiết của các nghiên cứu mở rộng, toàn diện và có tính so sánh liên vùng về hôn nhân của người Việt Công giáo và không Công giáo tại các địa phương khác trên cả nước, đặc biệt là tại các tỉnh phía Nam – nơi mà văn bản luận án xác định còn là khoảng trống chưa nhận được sự quan tâm thỏa đáng từ ngành Dân tộc học/Nhân học.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Học viên, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu dân tộc học nguyên phát và khung phân tích mẫu mực về việc kết hợp lý thuyết chức năng với lý thuyết tiếp biến văn hóa trong nghiên cứu nhân học tôn giáo, nhân học gia đình.
  • Giảng viên các cơ sở đào tạo: Là tài liệu tham khảo giảng dạy hữu ích cho các chuyên ngành Nhân học, Dân tộc học, Xã hội học gia đình, Tôn giáo học và Văn hóa học tại các viện nghiên cứu và trường đại học.
  • Cán bộ làm công tác quản lý nhà nước và chính sách: Là cẩm nang thực tế cho cán bộ tư pháp, văn hóa, mặt trận tổ quốc tại các địa phương có đông đồng bào Công giáo sinh sống trong việc quản lý hộ tịch, xây dựng quy ước làng văn hóa và vận động quần chúng đoàn kết lương - giáo.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ cấu dân số và tôn giáo tại xã Thọ Nghiệp được phân bố như thế nào trong thời gian tác giả khảo sát?

Theo số liệu thống kê địa phương năm 2019 - 2020 được luận án trích dẫn, xã Thọ Nghiệp có 3.553 hộ với 13.677 nhân khẩu (trong đó 10.807 nhân khẩu thường xuyên có mặt tại địa bàn), 100% đều là người Kinh. Về thành phần tôn giáo, người Việt theo Công giáo chiếm 53% dân số, người Việt không theo Công giáo chiếm 47% dân số. Toàn xã chia thành 23 xóm, gồm 10 xóm Công giáo toàn tòng, 11 xóm không Công giáo và 2 xóm có cư dân sinh sống xen kẽ.

2. Quyền quyết định trong hôn nhân của người Công giáo tại địa phương diễn ra như thế nào qua số liệu khảo sát?

Kết quả khảo sát 134 phiếu thuộc nhóm người Công giáo (Bảng 2) cho thấy: 100% quyền quyết định hôn nhân thuộc về bản thân người kết hôn, trong đó 63,4% tự quyết định có hỏi ý kiến cha mẹ và 36,6% tự bản thân quyết định hoàn toàn. Không ghi nhận bất kỳ trường hợp nào do cha mẹ quyết định hoàn toàn (0%) hoặc do dòng họ quyết định (0%), phản ánh đúng nguyên tắc giáo luật về sự tự do ưng thuận tuyệt đối trong Bí tích Hôn phối.

3. Người Công giáo tại xã Thọ Nghiệp có quan điểm như thế nào đối với hôn nhân khác tôn giáo?

Khảo sát thực nghiệm của tác giả (Bảng 3) ghi nhận 100% người Công giáo được hỏi (134/134 người) đều đồng thuận với quan điểm "có thể chấp nhận được" đối với hôn nhân khác tôn giáo. Giáo luật Công giáo hiện hành cho phép việc chuẩn miễn kết hôn khác đạo với điều kiện người có đạo giữ vững đức tin và con cái sinh ra được rửa tội, giáo dục theo giáo lý Công giáo.

4. Quy mô mẫu khảo sát định lượng và kỹ thuật điền dã dân tộc học của luận án được thực hiện như thế nào?

Tác giả đã phát ra 400 phiếu khảo sát tại 23 xóm (mỗi xóm từ 15 đến 20 phiếu), thu về và làm sạch được 306 phiếu hợp lệ (172 phiếu người không Công giáo và 134 phiếu người Công giáo), xử lý bằng phần mềm SPSS. Về kỹ thuật định tính, tác giả thực hiện 30 cuộc phỏng vấn sâu, tổ chức 9 cuộc thảo luận nhóm và trực tiếp quan sát tham dự tại 3 đám cưới cụ thể đại diện cho các nhóm hôn nhân nội đạo và hôn nhân hỗn hợp tôn giáo trên địa bàn.

5. Sự xung đột giữa Giáo luật Công giáo và thực tế xã hội hiện nay tại xã Thọ Nghiệp thể hiện rõ nhất ở điểm nào?

Sự xung đột thể hiện rõ nét nhất ở quan niệm về việc quan hệ tình dục và chung sống trước hôn nhân. Giáo luật Công giáo (điều 2353 và 2390) xếp hành vi quan hệ xác thịt ngoài hôn nhân vào tội gian dâm và cấm rước lễ. Tuy nhiên, dưới tác động của lối sống hiện đại, hiện tượng quan hệ trước hôn nhân và mang thai trước cưới vẫn diễn ra trong giới trẻ Công giáo, sau đó họ thực hiện việc xưng tội thông qua Bí tích Giải tội trước khi cử hành thánh lễ hôn phối tại nhà thờ để được hợp thức hóa về mặt tôn giáo.

Kết luận

Luận án Tiến sĩ Nhân học của tác giả Đặng Thị Hải Hằng là công trình khoa học khảo sát chuyên sâu, toàn diện về hôn nhân của người Việt tại xã Thọ Nghiệp, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Bằng việc kết hợp chặt chẽ phương pháp điền dã dân tộc học với điều tra xã hội học định lượng, công trình đã làm sáng tỏ các đặc trưng, sự tương đồng, dị biệt và cơ chế tiếp biến văn hóa giữa hai cộng đồng cư dân Công giáo và không Công giáo trong cùng một không gian làng xã đồng bằng sông Hồng. Những kết quả phân tích về thực trạng biến đổi giá thú và hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang lại giá trị khoa học thực tiễn vững chắc cho công tác quản lý nhà nước về gia đình và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.