mở đầu cho quá trình đáp ứng miễn dịch đặc hiệu. Khi tế bào đại thực bào bị virus phá huỷ, các phản ứng miễn dịch không xảy ra được, lợn nhiễm bệnh rơi vào trạng thái suy giảm miễn dịch và dễ dàng mắc các bệnh nhiễm trùng thứ phát. Hậu quả suy giảm miễn dịch còn thể hiện ở góc độ không hoặc giảm hiệu lực của các vacxin khác ở lợn như vacxin dịch tả, tụ huyết trùng,. Điều này có thể thấy rõ ở những đàn lợn vỗ béo chuẩn bị giết thịt, khi bị nhiễm PRRS sẽ có sự tăng đột biến về tỷ lệ viêm phổi thứ (kế) phát do những vi khuẩn vốn sẵn có trong đường hô hấp (Drew TW, 2000).
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Viêm phổi làm thiếu oxy nên gây rối loạn chuyển hóa của thai, thai bị suy dinh dưỡng và gây chết thai, sảy thai. Lợn chửa kỳ cuối thì nhu cầu oxy tăng cao vì phải nuôi thai, ở thời kỳ cuối thai tăng trưởng rất nhanh nên nhu cầu về oxy tăng gấp bội, vì vậy lượng thiếu hụt oxy càng nghiêm trọng, nên thai hay sảy vào kỳ cuối. Sau sảy thai tế bào nội mạc tử cung bị thoái hóa, hoại tử nên làm chậm các quá trình sinh lý khác. Triệu chứng lâm sàng Theo ghi nhận của nhiều nghiên cứu về các triệu chứng lâm sàng ở lợn mắc bệnh PRRS cho thấy, lợn bệnh thường có các triệu chứng đầu tiên là sốt cao, bỏ ăn, mẩn đỏ da, khó thở, táo bón hoặc ỉa chảy và một số triệu chứng khác tuỳ thuộc vào bệnh kế phát và từng loại lợn.
Lợn con theo mẹ: Hầu như lợn con sinh ra chết sau vài giờ. Số con sống sót tiếp tục chết vào tuần thứ nhất sau khi sinh, một số tiếp tục sống đến lúc cai sữa nhưng có triệu chứng khó thở và tiêu chảy (Kamakawaa A. , 2006) Lợn có triệu chứng biếng ăn, ho nhẹ, lông xơ xác, gầy yếu, sưng mí mắt và kết mạc, đôi khi đây là triệu chứng mang tính chẩn đoán đối với lợn con dưới 3 tuần tuổi mắc bệnh PRRS có biểu hiện: tai, mõm tím, rối loạn hô hấp, tiêu chảy phân màu nâu đỏ hoặc xám. Tỷ lệ lợn chết là 15% hoặc cao hơn do viêm phổi và bội nhiễm vi khuẩn kế phát.
Lợn nái: các triệu chứng chủ yếu là tím âm hộ, sảy thai, thai chết lưu, thai gỗ hàng loạt, đẻ non, lợn con đẻ ra yếu ớt, tỷ lệ tử vong cao. Tỷ lệ thai chết tăng lên theo độ tuổi của thai: thai dưới 2,5 tháng tuổi tỷ lệ chết 20%, thai trên 2,5 tháng tỷ lệ chết là 93,75% (Phạm Ngọc Thạch và cs , 2007). Lợn nái trong giai đoạn nuôi con thường lười uống nước, viêm vú, mất sữa, viêm tử cung âm đạo, mí mắt sưng, có thể táo bón hoặc ỉa chảy, viêm phổi. Lợn chậm động dục trở lại Lợn đực giống: sốt cao, bỏ ăn, đờ đẫn hoặc hôn mê, một số con có hiện tượng tai xanh.
Đặc biệt xuất hiện hiện tượng viêm dịch hoàn, bìu dái nóng đỏ (chiếm 95%), dịch hoàn sưng đau, lệch vị trí (85%), giảm hưng phấn (Lê Văn Năm, 2007) lượng tinh ít, chất lượng kém. Lợn đực giống rất lâu mới hồi phục được khả năng sinh sản ( Nguyễn Như Thanh, 2007). Bệnh tích: Bệnh tích đặc trưng nhất là ở phổi. Viêm phổi hoại tử và thâm nhiễm đặc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trưng bởi những đám đặc chắc (nhục hóa) trên các thùy phổi.
Thùy bị bệnh có màu đỏ xám, có mủ và đặc chắc. Trên mặt cắt ngang của thùy bệnh lồi ra, khô. Nhiều trường hợp viêm phế quản phổi hóa mủ ở mặt dưới thùy đỉnh. Một số bệnh tích khác có thể thấy như: thận có thể có xuất huyết lấm tấm như đầu đinh ghim; não xung huyết; hạch hầu họng, amidan sưng hoặc sung huyết; gan sưng, tụ huyết; lách sưng, nhồi huyết; hạch màng treo ruột xuất huyết; loét van hồi manh tràng (Nguyễn Như Thanh và cs , 2001).
Vật chủ và phương thức truyền lây - Vật chủ: PRRS chỉ gây bệnh cho lợn, lợn ở tất cả các lứa tuổi đều cảm nhiễm, nhưng lợn con và lợn nái mang thai thường mẫn cảm hơn cả. Ngoài ra, lợn rừng cũng mắc bệnh và đây có thể được coi là nguồn dịch thiên nhiên và phát tán bệnh. Theo Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO), PRRS được xác định không lây truyền và gây bệnh sang gia súc khác và con người (Rossow K D, 1994). - Đường truyền lây: Virus PRRS có trong dịch mũi, nước bọt, phân và nước tiểu của lợn ốm hoặc lợn mang trùng và phát tán ra môi trường; tinh dịch của lợn đực giống nhiễm virus cũng là nguồn lây lan bệnh.
Ở lợn nái mang thai, virus có thể từ mẹ xâm nhiễm sang bào thai và gây bệnh. Lợn con nhiễm bệnh và lợn mang trùng có thể đào thải virus ra môi trường trong vòng 6 tháng (La Tấn Cường, 2005). Bệnh truyền chủ yếu theo đường không khí, có thể lây trực tiếp thông qua sự tiếp xúc giữa lợn ốm, lợn mang trùng với lợn khoẻ và cũng có thể lây gián tiếp qua các nhân tố trung gian (không khí, đất, nước, thức ăn,…) bị nhiễm virus, virus có khả năng phát tán rộng và dễ gây nhiễm qua đường hô hấp ( Cho J. Chẩn đoán Chẩn đoán lâm sàng Chẩn đoán dựa vào 2 nhóm triệu chứng: + Triệu chứng đường sinh sản: chủ yếu đối với lợn nái.
Vào giai đoạn đầu của dịch PRRS, có thể thấy hiện tượng sảy thai ở giai đoạn cuối thời kỳ mang thai và đẻ non, có các thai yếu, thai chết lưu, đồng thời có thai gỗ, lợn con yếu, chết trước khi cai sữa. + Triệu chứng đường hô hấp: Chủ yếu dựa vào biểu hiện viêm phổi ở lợn con và lợn vỗ béo (Tô Long Thành, 2007). 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chẩn đoán bằng phương pháp giải phẫu bệnh + Đối với lợn con, lợn vỗ béo, lợn xuất chuồng: Bệnh tích khi mổ khám thấy phổi rắn, chắc và có vùng xám và hồng. + Trên tiêu bản vi thể: Viêm phổi kẽ tăng sinh đa điểm hoặc lan tràn làm vách phế nang dày lên, viêm não giữa và giảm số lượng tế bào lympho trong các tổ chức lympho.
+ Đối với thai sảy và thai chết lưu: Không có bệnh tích đại thể hoặc vi thể (Tô Long Thành, 2007). Phát hiện virus Lấy bệnh phẩm là huyết thanh, huyết tương, bạch cầu, phổi, hạch Amidan, tổ chức Lympho, dịch báng của thai chết lưu hoặc lợn chết ngay sau khi sinh để phát hiện virus. Có thể áp dụng một số kỹ thuật sau đây để phát hiện virus: - Phân lập virus trên một số loại tế bào: Tế bào phế nang của lợn, tế bào MA-104, tế bào MARC-145, CL-2621 và CL-11171. - Phương pháp bệnh lý miễn dịch.
- Phương pháp huỳnh quang gián tiếp phát hiện kháng nguyên. - Phương pháp sinh học phân tử. + Phương pháp nhân gen (RT-PCR). + Phương pháp lai phân tử tại chỗ (in situ hybridization).
Phản ứng RT-PCR có độ chính xác cao đáp ứng được yêu cầu phát hiện sớm và chính xác virus PRRS trên đàn lợn. Trong quá trình chẩn đoán, việc ứng dụng và hoàn thiện quy trình kỹ thuật RT-PCR góp phần xây dựng chiến lược kiểm soát bệnh trong ngành chăn nuôi lợn Việt Nam (Nguyễn Ngọc Hải và cs, 2007). Phương pháp sinh học phân tử có độ nhạy và độ chính xác cao đang được ứng dụng rộng rãi trong chẩn đoán xác định bệnh dịch, và cung cấp các dữ liệu di truyền học của virus PRRS giúp cho việc nghiên cứu và điều chế vacxin phòng bệnh thế hệ mới. Chẩn đoán huyết thanh học Có thể phát hiện kháng thể kháng virus PRRS trong huyết thanh, dịch của 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cơ thể hoặc từ thai chết lưu bằng một số phương pháp huyết thanh học bao gồm phương pháp kháng thể huỳnh quang gián tiếp, phương pháp miễn dịch enzyme, ELISA và phản ứng trung hòa huyết thanh.
Trong đó, ELISA là phương pháp tiện lợi hơn cả. Thuận lợi của phương pháp này là có thể chẩn đoán một số lượng lớn các mẫu huyết thanh và các kết quả thu được của các phòng thí nghiệm (khi chẩn đoán huyết thanh cùng lúc) là tương đối đồng nhất (Tô Long Thành, 2007). Tuy nhiên, việc chọn lọc kháng nguyên chẩn đoán là hết sức quan trọng do PRRS là nhóm virus đa dòng, đa chủng. Phòng và điều trị bệnh Vệ sinh phòng bệnh: Để phòng bệnh PRRS cần phải thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp, nhất là trong điều kiện thực tế của Việt Nam.
Để các biện pháp vệ sinh phòng bệnh đạt hiệu quả, việc thay đổi phương thức chăn nuôi từ nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi lớn tập trung, nhập con giống phải khoẻ mạnh rõ nguồn gốc đóng vai trò quan trọng đầu tiên. Bên cạnh đó, cần phải áp dụng triệt để các biện pháp an toàn sinh học trong chăn nuôi, chuồng trại phải đảm bảo vệ sinh an toàn thú y. Thường xuyên chăm sóc tốt cho lợn để nâng cao sức đề kháng cho lợn, đối với lợn mới mua về không rõ nguồn gốc cần cách ly ít nhất 3 tuần để theo dõi (Nguyễn Bá Hiên và cs, 2011). Phòng bệnh bằng vacxin: Bệnh chưa có loại thuốc nào đặc hiệu để điều trị, trong khi điều trị cần sử dụng thuốc tăng cường sức đề kháng, điều trị triệu chứng và chủ yếu là ngăn ngừa bệnh kế phát.
Chính vì vậy, để phòng chống bệnh ngoài việc chăn nuôi an toàn sinh học, chăm sóc nuôi dưỡng tốt.thì tiêm phòng vacxin cũng là một giải pháp. Việc tiêm vacxin sẽ giúp tạo được kháng thể cho đàn lợn, làm giảm tình trạng mẫn cảm của gia súc với chủng virus gây bệnh. Hiện trong "Danh mục vacxin được phép lưu hành và sử dụng tại Việt Nam" của Bộ Nông nghiệp và PTNT có 7 loại vacxin có thể sử dụng để phòng, chống bệnh PRRS ở lợn, cụ thể: Vacxin nhược độc BSL-PS 100 của Công ty Bestar - Sing-ga-po, chủng vacxin JKL 100 thuộc dòng Bắc Mỹ; 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vacxin nhược độc Amervac PRRS của Công ty Hipra - Tây Ban Nha, chủng vacxin VP046 BIS; vacxin Porcilis PRRS của Công ty Intervet Hà Lan. Vacxin nhược độc Ingelvac PRRS MLV của Công ty Boehringer - Đức, chủng vacxin ATCC VR-2332 thuộc dòng Bắc Mỹ; Vacxin vô hoạt PRRS của Công ty Chengdu- Trung Quốc, chủng NVDC- JXA1 thuộc dòng Bắc Mỹ; Vacxin nhược độc chủng JXA1-R của Công ty China Animal Husbandry Industry Company (CAHIC) - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ; Vacxin nhược độc chủng độc lực cao (live (JXA1-R Highly Pathogenic Porcine Reproductive and Respiratory Syndrome vaccine), của Công ty Đại Hoa Nông - Trung Quốc, chủng JXA1-R thuộc dòng Bắc Mỹ.