phần mở đầu(3 trang ) và phần kết luận, kiến nghị(1 trang), nội dung chính gồm các phần: Chƣơng 1 : Tổng quan : 13 trang (Từ trang 4 đến trang 16) Chƣơng 2: Nguyên liệu và phƣơng pháp nghiên cứu : 11 trang (Từ trang 17 đến trang 27) Chƣơng 3: Kết quả và thảo luận : 34 trang (Từ trang 28 đến trang 61) Luan van 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN 1. ĐẠI CƢƠNG VỀ CÂY THẦU DẦU 1. Tên gọi [7][15] Tên tiếng việt : Cây thầu dầu, cây đu đủ tía, cây đu đủ đầu. Tên tiếng anh: Castor Oil.
Tên khoa học: Ricinus communis L. Phân loại khoa học: Giới (regnum) Thực vật (Plantae) Ngành (phylum) Thực vật có hoa (Angiospermae) Lớp (class) Hai lá mầm (Eudicots) Bộ (ordo) Acarina Họ (familia) Đại kích (Euphorbiaceae) Tông (tribus) Acalypheae Phân tông (subtribus) Ricininae Chi (genus) Ricinus Loài (species) Bét 1. Họ thầu dầu (Euphorbiaceae)[1][2][8] Họ thầu dầu hay còn gọi là họ Đại kích (Euphorbiaceae) là một họ lớn của thực vật có hóa với 240 chi và khoảng 6000 loài. Họ này phân bố chủ yếu ở khu vực nhiệt đới, với phần lớn các loài tập trung trong khu vực Indonesia, Malaysia và sau đó là khu vực nhiệt đới châu Mỹ.
Tại khu vực nhiệt đới châu Phi cũng có nhiều loài, giống, thứ nhƣng không đa dạng nhƣ các khu vực kể trên. Tuy nhiên nhiều loài có trong các khu vực không nhiệt đới nhƣ Địa Trung Hải, Trung Đông, miền Nam châu Phi hay miền Nam Hoa Kỳ. Trong hệ thực vật Việt Nam, Thầu dầu đƣợc coi là họ lớn, giàu thứ tƣ sau các họ Lan (Orchidaceae), họ Đậu (Leguminosae), họ Lúa (Graminae) trong số 305 loài thực vật bậc cao có mạch. Ở Việt Nam, họ Thầu dầu hiện đã biết có 75 chi cùng khoảng trên 450 loài và 16 thứ, trong số đó có chi Noi (Oligoceras) với 131 loài (chiếm 31,58% số loài của cả họ) và 9 thứ (khoảng 56,25%) đƣợc coi là đặc hữu.
Phần lớn các loài và các thứ đạc hữu đều chỉ gặp phân bố rất hạn chế ở một vài địa phƣơng trong cả nƣớc. Luan van 4 Hầu nhƣ tất cả các loài trong họ Thầu dầu đều có chứa nhựa mủ và chứng thƣờng rất độc. Nhựa mủ từ Cao su (Hevea braziliensis) là nguồn nguyện liệu quan trọng trong công nghiệp. Song nói chung nhựa mủ của nhiều loài có thể gây dị ứng, gây ngƣng kết hồng cầu, gây độc đối với ngƣời và gia súc.
Tuy vậy nhựa mủ của nhiều loài là nguồn dƣợc liệu có giá trị do có chứa các hợp chất có hoạt tính sinh học cao. Hiện nay, những ngiên cứu về mặt khoa học đối với các loài, các chi trong họ Thầu dầu ở Việt Nam tuy còn trong giai đoạn đầu và chƣa nhiều, nhƣng cũng đã phát hiện thêm hàng loạt các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học cao, trong đó có nhiều hợp chất mới có giá trị. Đáng chú ý trong số đó là hợp chất malloapelta B từ loài Ba bét (Mallotus apelta) có hoạt tính ức chế mạnh quá trình hoạt hóa yếu tố phiên mã NF – KB, có thể ức chế sự phát triển của một số dòng tế bào ung thƣ ngƣời (ung thử biểu mô KB, ung thƣ màng tử cung FL, ung thƣ gan Hep-G2 và ung thƣ màng tim RD). Các hợp chất tự nhiên ở các loài, các chi thuộc họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) lần lƣợt là: Me (Phyllanthus) – 48 loài, Ba đậu (Croton) – 45 loài, Ba bét (Mallotus) – 37 loài, Chòi mòi (Antidesma) – 29 loài, các chi Cò sữa (Euphorbia), Bọt ếch (Glochidion) và Mòng lông (Trigonostemon) đều có 26 loài, Rau ngót (Sauropus) – 23 loài.
Các chi có trên 10 loài gồm : Bồ cu vẽ (Breynia), Ba soi (Macaranga), Cách hoa (Cleistanthus), Thàu táu (Aporosa), Thổ mật (Bridelia), Da gà (Actephila), Tai tƣợng (Acalypha) – 8 loài.