MỞ ĐẦU 1. Đ t v n đề Nằm tại Khu vực nhiệt đới nóng ẩm, gió mùa, lại rất đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan, có các vùng tiểu khí hậu khác nhau giữa các miền, đặc điểm đó là điều kiện rất thuận lợi để giới thực vật trong tự nhiên phát triển đa dạng về thành phần loài, phong phú về số lƣợng cá thể. Việt Nam đƣợc xếp hạng thứ 16 trên thế giới về sự đa dạng tài nguyên sinh vật. Trong tác phẩm “Thực vật chí đại cƣơng Đông Dƣơng” và các tập bổ sung tiếp theo Lecomte H.
và cộng sự đã mô tả và ghi nhận Việt Nam có khoảng trên 240 họ với khoảng trên 7.000 loài thực vật bậc cao có mạch [25]. Những năm gần đây, nhiều nhà thực vật đã dự đoán con số đó có thể lên tới 15.000 loài, hiện nay đã ghi nhận đƣợc khoảng 13.000 loài thực vật bậc cao có mạch [14], trong đó số có 660 loài thực vật (chiếm khoảng 6,3% tổng số loài đã biết) là những cây cho tinh dầu. Các họ giàu chi và loài chứa tinh dầu là: Cúc (Asteraceae), Gừng (Zingiberaceae), Cam (Rutaceae), Bạc hà (Lamiaceae), Long não (Lauraceae), Hoa tán (Apiaceae), Sim (Myrtaceae)… [14]. Xã hội phát triển, nhu cầu tìm hiểu và sử dụng các các loài thực vật chứa hợp chất thiên nhiên có hoạt tính sinh học ngày càng cao.
Trong số các nhóm cây tài nguyên thực vật thì những cây chứa tinh dầu chiếm vị trí quan trọng. Đây là nguồn nguyên liệu thiết yếu không chỉ phục vụ đời sống hằng ngày mà còn của nhiều ngành công nghiệp nhƣ dƣợc phẩm, mỹ phẩm, thực phẩm. Đây là một họ quan trọng của hệ thực vật thế giới cũng nhƣ của hệ thực vật Việt Nam. Trên thế giới, họ Cúc có khoảng 1550 chi với hơn 23.
Việt Nam có 126 chi, 374 loài, 5 taxon dƣới loài [3]. 1 Họ Cúc là một họ có nhiều chi và loài chứa tinh dầu. Nghiên cứu về tinh dầu họ này chủ yếu các tập trung vào các chi Ageratum, Artemisia, Blumea, Chromolena, Wedelia, Xanthium,…. Việt Nam, nghiên cứu về đặc điểm thực vật học và tinh dầu của các loài trong họ Cúc (Asteraceae) đã có một số công trình.
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều loài trong họ Cúc (Asteraceae) có giá trị sử dụng cao nhƣng lại chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ về đặc điểm thực vật, thành phần hóa học và hoạt tính sinh học tinh dầu. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi chọn Nghiên cứu đặc điểm thực vật học và tinh dầu một số loài họ Cúc (Asteraceae) tại Thanh Hóa làm đề tài luận văn của mình. Mục tiêu nghiên cứu - Nghiên cứu, mô tả đƣợc một số đặc điểm sinh học, sinh thái của 3 loài Đơn buốt (Bidens pilosa L.), Đại bi (Blumea balsamifera (L.) và Nhọ nồi (Eclipta alba Hassk); - Xác định đƣợc tinh dầu 3 loài Đơn buốt (Bidens pilosa L.), Đại bi (Blumea balsamifera (L.) và Nhọ nồi (Eclipta alba Hassk). -Thử thành phần hóa học và hoạt tính sinh học tinh dầu loài Đơn buốt (Bidens pilosa L.
- 2 HƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LI U 1. Tổng quan về họ cúc Họ Cúc (Asteraceae) là họ thực vật tiến hóa nhất của lớp hai lá mầm và đây cũng là một trong những họ có số lƣợng loài, số lƣợng chi lớn nhất của ngành hạt kín. Họ Cúc (Asteraceae) thống kê trên thế giới có khoảng 23000 loài, 1550 chi và phân bố rộng khắp trên thế giới nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Lào, Campuchia, Thái Lan, Philippin. Họ Cúc không chỉ có số lƣợng chi và loài nhiều, mà chúng còn có khu phân bố rất rộng, ở khắp nơi, trong các môi trƣờng sinh thái khác nhau nhƣ nơi ẩm ƣớt, nơi khô hạn, đất phù sa, đất chua phèn, đất sét, đất cát… với các sinh cảnh rất đa dạng nhƣ trảng cỏ, trong rừng, ven rừng, vách núi, đồng ruộng, ven đƣờng… [3] Việt Nam, họ Asteraceae có khoảng hơn 275 loài, trong đó có 181 loài có giá trị sử dụng khác nhau nhƣ trồng để làm thực phẩm (hƣớng dƣơng, diếp xoăn…); Dùng làm thuốc (Đại bi, Đơn buốt, Cỏ cứt lợn.); Dùng làm cảnh, làm phân xanh, khai thác tinh dầu … [3] Họ Cúc là một họ có nhiều chi và loài chứa tinh dầu, tập trung vào các chi Ageratum, Artemisia, Blumea, Chromolena, Wedelia, Xanthium,….
Các nghiên cứu về đ c điểm thực vật và tinh dầu họ Cúc 1. Trên thế giới Họ Cúc là họ có nhiều loài chứa tinh dầu, vì vậy đã có khá nhiều các công trình nghiên cứu về điểm thực vật và tinh dầu họ Cúc. Các công trình nghiên cứu này chủ yếu tập trung vào các chi Ageratum, Artemisia, Blumea, Chromolena, Wedelia, Xanthium,…. Nghiên cứu sự thay đổi thành phần hóa học tinh dầu thu thập trong 3 năm liên tục (2009-2011) của loài Thủy song nha (Bidens tripartita L.) tại Litva của các tác giả Vilma Kaskoniene, Paulius Kaskonas, Audrius Maruska, 3 Ona Ragazinskiene [40] cho thấy thành phần hóa học đặc trƣng của tinh dầu thay đổi định lƣợng và định tính.
Hàm lƣợng tinh dầu thu đƣợc trong năm 2010 cao hơn năm 2009 (22%) và 2011 (35%). Thành phần chính trong tinh dầu của loài này gồm α-pinen (3,7–12,1%), p-cymen (2,8–8,0%), β-ocimen (40,5–45,9%), β-elemen (9,9–15,6%), iso và α-caryophyllen (4,3–6,8% và 5,2–8,2%) và α-bergamoten (3,3–9,4%). Ain Raal và CS (2011) đã công bố hàm lƣợng và thành phần tinh dầu một số loài Cúc. Trong công trình này tác giả đã xác định hàm lƣợng và thành phần hóa học tinh dầu của 5 loài họ Cúc.
Về hàm lƣợng tinh dầu dao động từ dấu vết lên đến 0,2%. Thành phần chính tinh dầu của các loài Asteraceae đƣợc nghiên cứu nhƣ sau: Chamomilla recutita: bisabolol oxide A (39.9%), (Z)-en-yne-dicycloether (11.7%); Chamomilla suaveolens: (Z)-en-yne-dicycloether (37.6%); Anthemis tinctoria: α-eudesmol (10.0%); Matricaria perforata: (Z,Z)-matricaria ester (77.5%), matricaria ester isomer (3.5%), and matricaria lactone (3.0%); and Leucanthemum vulgare: (E)-β-farnesene (7. Bằng phƣơng pháp chƣng cất lôi cuốn hơi nƣớc và phƣơng pháp Sắc ký khí/khối phổ, năm 2014, các tác giả A. Bilia, Francesca Santomauro, Cristiana Sacco, Maria Camilla Bergonzi và Rosa Donato đã tiến hành phân tích các thành phần hóa học của tinh dầu và nƣớc thơm của loài Artemisia annua L ở các giai đoạn phát triển khác nhau.
Phân tích hóa học thành phần của tinh dầu cho thấy sự có mặt chủ yếu của các hợp chất monoterpenoit và sesquiterpenoit và cho thấy sự khác nhau lớn của 03 hợp chất chính artemisin 4 keton; 1,8-cineol và camphor tùy thuộc vào nguồn gốc địa lý. Tinh dầu có thể chia thành các nhóm sau: Tinh dầu Artemisia Việt Nam với 3,3-21,8% camphor và 0,3-18,9% germacren D. Tinh dầu Artemisia Trung Quốc với hàm lƣợng artemisia keton cao (64%). Tinh dầu Artemisia Ấn Độ với 11,5- 58,8% artemisia keton.
Tinh dầu Pháp với 2,8-55% artemisia keton; 1,2- 11,6% 1,8 cineol và 15% germacren D. Tinh dầu Bắc Mỹ với 35,7-68% artemisia keton và 22,8-31,5% 1,8-cineol. Tinh dầu Iran với 48% camphor và 9,4% 1,8-cineol. Sự có mặt của tinh dầu còn tìm thấy ở hạt và rễ.
Các sesquiterpen đƣợc thấy rất phong phú trong tinh dầu hạt, đặc biệt là caryophyllen oxit (9,0%), caryophyllen (6,9%), (E)-β-farnesen (8,2%) và germacren D (4,0%). Tuy nhiên, chỉ 52% của tổng số thành phần đƣợc xác định. Việc chƣng cất tinh dầu rễ khô Artemisia annua, giống Jwarharti, tinh dầu thu đƣợc đạt hàm lƣợng 0,25%. Tinh dầu giàu sesquiterpen và sesquiterpen oxit và có rƣợu cis-arteannuic (25,9%); (E)-β-farnesen (6,7%); β-maalien (6,3%); β-caryophyllen (5,5%); caryophyllen oxit (4,4%) và 2- phenylbenzaldehyt (3,5%) đƣợc coi là các thành phần chủ yếu.
Gần đây, những phân tích nƣớc thơm thu đƣợc ở thời kỳ hoa nở rộ, cho thấy trong số các hợp chất thu đƣợc, sự có mặt của camphor (27,7%); 1,8-cineol (14%), artemisia keton (10,1%); α-terpineol (6,1%); trans-pinocarveol (5,4%) và rƣợu artemisia (2%). Từ cây trƣớc thời kỳ nở hoa, nƣớc thơm cho camphor (30,7%); 1,8-cineol (12,8%); rƣợu artemisia (11,4%); artemisia keton (9,5%); α-terpineol (5,8%) và trans-pinocarveol (3,0%) là các thành phần chính. Tinh dầu của Artemisia annua là đối tƣợng chính của nhiều công trình thử hoạt tính kháng khuẩn và kháng nấm. Việc thử hoạt tính sinh học đƣợc thử với toàn bộ tinh dầu và với các thành phần chủ yếu nhƣ camphor; 1,8-cineol; α-pinen và artemisia keton.
Các vi khuẩn Gram + đƣợc thử với tinh dầu Artemisia annua là Staphylococcus aureus; Enterococcus hirae; Enterococcus faecalis; Steptococcus pnemoniae; Micrococcus luteus; Bacillus cereus; Sarcina lutea; Bacillus subtilis; Bacillus thuringiensis; Bacillus spp. và Listeria innocua. 5 Các Gram – Escherichia coli; Escherichia coli UPEC-Uropathogenic; Scherichia coli ETEC-enterotoxigenic; Escherichia coli EIEC- Enteroinvasive; Scherichia coli sản xuất STEC-Shiga-toxin; Shigella sp.; Salmonella enteritidis; Klebsiella pneumonia; Haemophilus infuenzae và Pseudomonas aeruginosa cũng đƣợc thử. Một số dòng Nấm gồm Candida albicans; Candida krusei và Saccharomyces cerevisiae và một số Nấm mốc nhƣ Aspergillus fumigatus cũng đã đƣợc thử.
Verma và CS (2016) [35], nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của loài Đơn buốt (Bidens pilosa) tại Ấn Độ cho thấy các hợp chất chính trong loài này là flavonoit và polyacetylen. Rễ tƣơi của loài này đƣợc thu ở vùng núi thấp của dãy Himalaya và chƣng cất bằng lôi cuốn hơi nƣớc cho hàm lƣợng tinh dầu 0,04 0,01%. Tinh dầu đƣợc cho chạy trong máy GC-FID (Cột mao quản DB-5, 30 m,0,25 mm id, phim dày 0,25 m, nhiệt độ 60 – 2300C, chƣơng trình nhiệt 30C/phut) và phân tích bằng Sắc ký khí/khối phổ (GC/MS) (năng lƣợng ion hóa 70 eV, khoảng cách mass scan 4- 450 amu). Đã xác định đƣợc 89,6 6,03% tổng lƣợng tinh dầu.
Thành phần chính của tinh dầu là octadecadienol là 32,8 4,45%; bornyl acetat 19,4 3,11%; n-hexadecanol 7,7 0,60%; 7-phenylhept-2-en-4,6-diynyl acetat 3,2 2,53%; α-pinen 2,8 1,66%; camphen 2,5 1,57%; α-copaen 2,4 0,82%; cis-chrysanthenyl acetat 2,4 0,15%; eugenol isobutyrat 1,8 1,18%; octadecadienyl acetat 1,7 chiếm 0,3% và isoborneol 1,6 0,66%. Tinh dầu đƣợc thử với 9 dòng tế bào vi khuẩn (4 dòng gram+: Staphylococcus aureus (MTCC 2940), Staphylococcus aureus (MTCC 96), Streptococcus mutans (MTCC 890), Bacillus subtilis (MTCC 121) và 5 dòng Gram-: Klebsiella pneumonia (MTCC 109), Escherichia coli (DH-5), Pseudomonas aeruginosa (MTCC 741) và Salmonella typhimurium (MTCC 98). Tinh dầu thể hiện ức chế chậm đối với Staphylococcus aureus (MTCC 2940), Staphylococcus aureus (MTCC 96) với vùng ức chế tƣơng ứng là 7.0 mm và 5,0 mm. Tinh 6 dầu này cho ức chế thấp với Streptococcus mutans (MTCC 890) với khoảng ức chế là 3.
Tuy nhiên, tinh dầu không có hoạt tính ức chế với các dòng Gram-. Trong các nghiên cứu trƣớc đây, tinh dầu rễ loài Bidens pilosa thu từ các địa điểm khác nhau cho thấy các thành phần khác nhau: 1-Phenylhepta- 1,3-diyn-5-en-7-ol acetat là thành phần chính của tinh dầu rễ Bidens pilosa. Tuy nhiên, bornyl acetat (24,1%), octadecadienol (23,8%), 7-phenylhept-2- en-4,6-diynyl acetat (22,5%) và n-hexadecanol (7,1%) đƣợc cho là các thành phần chính của tinh dầu rễ Bidens pilosa. Nghiên cứu hoạt tính sinh học của loài Đơn buốt (Bidens pilosa) và loài Hy thiêm (Sigesbekia orientalis) tại Papua New Guinea của các tác giả M.
Dịch chiết etanol và tất cả các phân đoạn cho phổ hoạt tính kháng khuẩn rộng. Không có hoạt tính kháng các dòng nấm thí nghiệm.