Phần mở đầu mỗi họ tác giả mô tả đặc điểm chung của họ, mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên thông thường bằng tiếng anh, mô tả ngắn gọn hình thái thân, lá, hoa, quả, cách thức nhân giống, nguồn gốc [58]. Min và cộng sự (2006), đã trình bày bằng hình ảnh hơn 1.900 loài cây cảnh được trồng ở Singapore, gồm 5 nhóm: cây leo, dương xỉ và đồng minh của dương xỉ, cây bụi, tuế và cau (cycads anh palms), cây gỗ. Ở mỗi nhóm các loài được sắp xếp theo anphabet tên khoa học. Mỗi loài tác giả cung cấp thông tin về tên khoa học, tên đồng 11 danh, tên thông thường bằng tiếng Anh, họ, nguồn gốc, đồng thời bổ sung bằng biểu tượng hình ảnh một số thông tin về đặc điểm của loài: yêu cầu về nước, ánh sáng, giá trị sử dụng, dạng lá, đặc điểm của thân [62].
Một số nghiên cứu cây cảnh ở Việt Nam Ở nước ta, có khá nhiều tác giả nghiên cứu về cây cảnh trong đó có nhiều công trình đã được công bố. “Cây cảnh, hoa Việt Nam (trừ họ Lan Orchidaceae)” (1993), tác giả Trần Hợp đã thống kê được 756 loài cây cảnh chia thành 6 nhóm: nhóm cây leo, cây hàng rào có 93 loài, nhóm cây làm cảnh bằng thân có 160 loài, nhóm cây làm cảnh bằng lá có 143 loài, nhóm cây có hoa làm cảnh có 284 loài, nhóm cây có quả làm cảnh có 34 loài, nhóm cây ở trong nước, bờ nước làm cảnh có 42 loài. Ở mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên thông thường bằng tiếng Việt, Anh và Pháp. Kèm theo mô tả các đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả.
Trong đó, tác giả lưu ý các đặc điểm hình thái đặc biệt của mỗi loài cây được khai thác làm cảnh. Ở một số loài tác giả nêu thêm nguồn gốc của chúng [12]. Võ Văn Chi (1994) đã sắp xếp 574 loài cây cảnh, thuộc 119 họ, 5 ngành thực vật (thông đất, dương xỉ, thông, thiên tuế và thực vật có hoa) theo hệ thống tiến hóa của thực vật và chia thành 2 nhóm lớn: cây cảnh không có hoa và cây cảnh có hoa. Trong từng ngành, các họ, chi, loài được sắp xếp theo anphabet của tên khoa học.
Mỗi họ tác giả giới thiệu một số đặc điểm chung của họ, các chi trong họ và các loài thường trồng ở Việt Nam. Mỗi loài đều có tên khoa học, tên thông thường và mô tả các đặc điểm hình thái của thân, lá, hoa, quả. Một số loài có thêm nguồn gốc, hình thức sinh sản, các biện pháp kĩ thuật giúp cho cây ra hoa đúng thời điểm [3]. Trần Hợp và cộng sự (1997) đã thống kê 305 loài cây cảnh và họ Lan (Orchidaceae) với 34 chi, 58 loài, được sử dụng để trang trí trong nhà và thiết kế sân, vườn.
Trong đó có 49 loài thuộc nhóm cây hàng rào, cây leo, 74 loài thuộc nhóm cây trong vườn, 94 loài thuộc nhóm cây gỗ uốn thế, bonsai, 61 loài thuộc nhóm cây trang trí trong nhà, 27 loài thuộc nhóm cây trang trí ven và trong hồ nước, 34 chi lan. Mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên thông thường, mô tả chi tiết các đặc điểm về thân, lá, hoa, quả và phương pháp nhân giống [13]. 12 Trong “Cây xanh và cây cảnh Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh” (1998), tác giả Trần Hợp đã mô tả 628 loài cây xanh, cây cảnh được trồng ở thành phố Hồ Chí Minh chia thành 8 nhóm: nhóm cây xanh đường phố - cây bóng mát có 139 loài, nhóm cây thân cột có 63 loài, nhóm cây thân leo làm cảnh có 47 loài, nhóm cây có thân mọng nước làm cảnh có 71 loài, nhóm cây làm bonsai có 80 loài, nhóm cây có lá làm cảnh có 64 loài, nhóm cây có hoa làm cảnh có 127 loài, nhóm cây có quả, cây thủy sinh làm cảnh có 37 loài. Mỗi loài tác giả nêu tên khoa học, tên thông thường, kèm theo mô tả các đặc điểm của thân, lá, hoa, quả và kể tên những địa điểm có thể tìm thấy từng loài cây cảnh ở thành phố Hồ Chí Minh [14].
Gần đây, các sách về cây cảnh ngoài việc giới thiệu các đặc điểm của cây được sử dụng để làm cảnh, còn giới thiệu thêm các công dụng khác của cây cảnh. Sách “Cây cảnh đẹp cho vị thuốc hay chữa bệnh” (2003), Nguyễn Hữu Đảng đã giới thiệu 100 loài cây cảnh đẹp và kèm theo mỗi loài là một số bài thuốc sử dụng chính loài cây cảnh đó để chữa bệnh [5]. Sách “Hướng dẫn trồng cây cảnh làm sạch không khí trong phòng ở” (2011), tác giả Trần Mão và Trần Tuấn Kha giới thiệu 88 loài cây cảnh có tác dụng làm sạch không khí chia làm 3 nhóm: những cây có khả năng hấp thu mạnh các chất ô nhiễm hóa học có 30 loài, những cây có khả năng làm sạch ô nhiễm vật lý có 21 loài và những loài cây làm sạch ô nhiễm sinh vật có 27 loài. Mỗi loài cây tác giả trình bày tác dụng làm sạch không khí, đặc điểm sinh thái, phương pháp trồng và chăm sóc [24].
Sách “Tài nguyên cây cảnh Việt Nam”, tập 1, (2012), tác giả Trần Hợp giới thiệu 417 loài cây cảnh thuộc 43 họ, thuộc 3 nhóm quyết thực vật, dương xỉ, ngành thông. Mỗi nhóm cây, các họ, các chi, loài, các đơn vị dưới loài được trình bày theo thứ tự vần. Mỗi loài tác giả nêu tên thông thường bằng tiếng Việt, Anh, Pháp, tên khoa học và mô tả ngắn gọn về hình thái thân, lá, hoa, quả, đồng thời nêu thêm nguồn gốc và dược dụng của một số loài cây cảnh [16]. Ngoài các nhóm cây cảnh trồng trên cạn, ngày nay nhóm cây cảnh trồng trong nước cũng được quan tâm.
Sách “Cây cảnh trong nước” (2011), Vương Chí Quân chia cây cảnh trong nước thành 6 nhóm: cây thủy sinh sống bám, cây thủy sinh nổi, cây thủy sinh thân thấp, cây thủy sinh xòe lá, cây thủy sinh thân cao và cây thủy sinh dạng dây. Qua sách này, tác giả giới thiệu 75 loại cây cảnh thủy sinh, mỗi loại tác giả trình bày 13 tên thông thường, nhu cầu về ánh sáng, nhu cầu về CO2 và một số lưu ý khi bón phân, đặc điểm lớp đáy chậu phù hợp cho từng loài cây cảnh thủy sinh [26]. Lê Văn Tặng (2009), đã xác định được 163 loài, thuộc 128 chi, 69 họ, cây xanh bóng mát và cây cảnh trang trí trong phạm vi các con đường tiêu biểu trong thị xã, trường học các cấp, các công viên, khách sạn tại thị xã Sa Đéc. Đồng thời, luận văn này cũng đánh giá hiện trạng cây xanh bóng mát và cây cảnh trang trí trên đường Hùng Vương, đường Lê Lợi và công viên Sa Đéc: chủng loại cây đa dạng, sinh trưởng tốt, thiết kế phù hợp với cảnh quan và công trình kiến trúc lân cận [31].
Nguyễn Thị Thanh Tâm (2010), đã xác định 306 loài cây xanh, hoa kiểng với 182 hình ảnh minh họa, thuộc 216 chi, 90 họ, 4 ngành (dương xỉ, thiên tuế, thông, ngọc lan). Đề tài được thực hiện trong phạm vi các cơ quan, công viên, khu du lịch và một số khu dân cư trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh [32]. Như vậy, có khá nhiều công trình nghiên cứu về cây cảnh, tuy nhiên chưa có công trình nào xây dựng danh lục các loài cây cảnh được sản xuất kinh doanh ở Sa Đéc. Lê Văn Tặng (2009) chỉ tập trung nghiên cứu về cây xanh bóng mát và cây cảnh trong phạm vi các con đường tiêu biểu trong thị xã, trường học, công viên, khách sạn tại thị xã Sa Đéc.
Vì vậy, chưa khái quát được thành phần các loài cây cảnh ở Sa Đéc. Bên cạnh đó, do nhu cầu của thị trường, các loài cây cảnh mới lạ không ngừng được bổ sung nên tính đa dạng của cây cảnh ở Sa Đéc không ngừng gia tăng theo thời gian. Tổng quan về vùng nghiên cứu 1. Tổng quan về điều kiện tự nhiên của thành phố Sa Đéc 1.
Vị trí địa lý Thành phố Sa Đéc là đô thị loại 3 của tỉnh Đồng Tháp với diện tích tự nhiên 59,5km2 và dân số 103.211 người, có 09 xã, phường gồm phường 1, 2, 3, 4, An Hòa, Tân Qui Đông, xã Tân Khánh Đông, Tân Qui Tây, Tân Phú Đông. Thành phố Sa Đéc nằm giữa hai con sông: sông Tiền và sông Hậu với sông Tiền chảy ngang qua nội ô thành phố. Bên cạnh đó còn có sông Sa Đéc là nhánh sông quan trọng nối liền thành phố Hồ Chí Minh đi Kiên Lương và Campuchia. Ranh giới hành chính của thành phố Sa Đéc như sau: phía Đông giáp sông Tiền, huyện Cao Lãnh, là tuyến giao thông thủy huyết mạch của Đồng bằng sông Cửu Long, 14 phía Tây giáp huyện Lai Vung, có quốc lộ 80 nối với huyện Lai Vung, Lấp Vò tỉnh Đồng Tháp, thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang và các tỉnh khác trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, phía Nam giáp huyện Châu Thành, có quốc lộ 80 nối dài với thành phố Vĩnh Long và nối với quốc lộ 1A đi thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh khác, phía Bắc giáp: huyện Lấp Vò [49], [50].
Huyện Lấp Vò Huyện Cao Lãnh Huyện Lai Vung Huyện Châu Thành Hình 1. Bản đồ hành chính thành phố Sa Đéc. Khí hậu, thủy văn Khí hậu Thành phố Sa Đéc có khí hậu cận xích đạo gió mùa, trong năm có hai mùa rõ rệt. Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm là 27,5oC, nhiệt độ cao tuyệt đối là 34.50C, nhiệt độ thấp tuyệt đối là 15 21. Độ ẩm trung bình là 84%. Lượng mưa trung bình năm là 1.513,7mm/năm với lượng mưa cao nhất vào tháng 11 đạt 287,6mm [50 tr. Thủy văn Chế độ thủy văn của thành phố Sa Đéc chịu ảnh hưởng của lượng nước ngọt từ sông Cửu Long và thủy triều biển Đông.
Chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa kiệt và mùa lũ. Mùa kiệt từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau, vào mùa này chế độ thủy văn theo chế độ bán nhật triều. Mùa lũ từ tháng 7 đến tháng 11, đỉnh lũ xuất hiện vào tháng 9 đến đầu tháng 10. Có lẽ, với chế độ thủy văn đặc biệt như vậy nên ở Sa Đéc có truyền thống trồng cây cảnh trên giàn.
Đây là, nét đặc trưng của nghề trồng cây cảnh ở Sa Đéc so với các vùng trồng cây cảnh khác trong cả nước [50]. Địa hình, đất đai Địa hình Thành phố Sa Đéc có địa hình bằng phẳng và thấp với hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt. Trong đó khu vực cao là nội ô thành phố và quốc lộ 80, phần còn lại là ruộng trũng và kênh rạch [31, tr.