Nghiên Cứu Về Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc Và Các Ủy Ban Của Quốc Hội Việt Nam

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu hoạt động của hội đồng dân tộc các ủy ban của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2016

230
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1.1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc

1.1.2. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài

1.1.3. Tóm lƣợc các kết quả nghiên cứu từ cách tiếp cận của Luận án

1.1.4. Những vấn đề Luận án cần tiếp tục giải quyết

1.2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1. Câu hỏi nghiên cứu

1.2.2. Lý thuyết nghiên cứu

1.2.3. Các giả thuyết nghiên cứu

1.3. Kết luận Chƣơng 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

2.1.1. Vị trí, vai trò của HĐDT, các Ủy ban

2.1.2. Khái niệm, đặc điểm hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

2.2. PHƢƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN

2.2.1. Phiên họp toàn thể

2.2.2. Hoạt động của các cơ cấu bên trong HĐDT, các Ủy ban

2.2.3. Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban đặt trong mối quan hệ với hoạt động của các cơ quan, tổ chức hữu quan

2.3. YÊU CẦU ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN

2.3.1. Bảo đảm hiệu lực pháp lý cao nhất của Hiến pháp

2.3.2. Bảo đảm tính khách quan. Góp phần phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Minh định rõ các nguyên tắc hoạt động của HĐDT, các Ủy ban và bảo đảm thực hiện đầy đủ các nguyên tắc này trong xác lập nhiệm vụ, quyền hạn cũng như trong thực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban. Gia tăng giá trị hoạt động của HĐDT, các Ủy ban thông qua việc phát huy vai trò, trí tuệ, sự tham gia của các chuyên gia, nhà khoa học, các tầng lớp nhân dân

2.3.3. Tính thường xuyên phải được bảo đảm đầy đủ hơn trong hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

2.4. Kết luận Chƣơng 2

3. CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

3.1. HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI QUA CÁC GIAI ĐOẠN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN

3.2. THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG CỦA HĐDT, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI HIỆN NAY

3.2.1. Thực tiễn hoạt động của HĐDT, các Ủy ban trong lĩnh vực lập pháp

3.2.2. Thực tiễn hoạt động giám sát của HĐDT, các Ủy ban

3.2.3. Thực tiễn hoạt động kiến nghị của HĐDT, các Ủy ban

3.2.4. Phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

3.2.5. Về bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, về sự chỉ đạo, điều hòa phối hợp hoạt động của UBTVQH đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

3.3. THỰC TRẠNG CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM VỀ BỘ MÁY GIÚP VIỆC, VỀ NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH

3.3.1. Về bộ máy giúp việc

3.3.2. Nguồn lực tài chính dành cho hoạt động của HĐDT, các Ủy ban chưa tương xứng

3.4. Kết luận Chƣơng 3

4. CHƯƠNG 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.1. QUAN ĐIỂM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.1.1. Tăng cƣờng và tiếp tục đổi mới một bước phƣơng thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động của HĐDT, các Ủy ban. Bảo đảm vị trí, vai trò mang tính chất “trụ cột” của HĐDT, các Ủy ban trong hoạt động của QH

4.1.2. Hoạt động của HĐDT, các Ủy ban phải được quy định bằng pháp luật một cách nhất quán, đầy đủ, cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế. Kế thừa những kinh nghiệm quý báu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH nước ta; đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm hoạt động của hệ thống Ủy ban QH các nước

4.2. CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI ĐỒNG DÂN TỘC, CÁC ỦY BAN CỦA QUỐC HỘI

4.2.1. Xác lập và vận hành tổ chức Đảng ở cấp độ HĐDT, các Ủy ban

4.2.2. Tăng cƣờng vai trò, trách nhiệm của UBTVQH trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.3. Hoàn thiện pháp luật về hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.4. Về phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.2.5. Đáp ứng nhu cầu thực tế về các điều kiện bảo đảm hoạt động của HĐDT, các Ủy ban

4.3. Kết luận Chƣơng 4

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG VÀ PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Về Hội Đồng Dân Tộc Quốc Hội

Nghiên cứu về Hội đồng Dân tộc của Quốc hội và các Ủy ban của Quốc hội Việt Nam là một lĩnh vực quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Các nghiên cứu trước đây đã cung cấp những hiểu biết ban đầu về cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan này. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn cần được làm sáng tỏ, đặc biệt là về hiệu quả hoạt động, cơ chế phối hợp và các yếu tố đảm bảo tính đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số Việt Nam. Luận án này sẽ tập trung vào việc phân tích sâu sắc hơn về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của các cơ quan này.

1.1. Tình Hình Nghiên Cứu Về Hội Đồng Dân Tộc Hiện Nay

Các công trình nghiên cứu về Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội đã được quan tâm nhiều hơn trong thời gian qua, tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu một cách toàn diện về hoạt động của các cơ quan này còn rất ít. Nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban còn để ngỏ, như khái niệm, đặc điểm, phương thức hoạt động, các yêu cầu đối với hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

1.2. Các Vấn Đề Cần Giải Quyết Trong Nghiên Cứu Về Quốc Hội

Nghiên cứu cần làm rõ khái niệm, đặc điểm, phương thức hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban; luận chứng đầy đủ, sát thực về các yêu cầu đối với hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban; đánh giá thực tiễn hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban một cách toàn diện, đầy đủ; tìm kiếm các giải pháp phù hợp với tình hình mới cũng như vị trí, vai trò của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

II. Cơ Sở Lý Luận Về Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc Quốc Hội

Để hiểu rõ về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, cần phải xác định rõ vị trí, vai trò, khái niệm và đặc điểm hoạt động của các cơ quan này. Hội đồng Dân tộc có vai trò quan trọng trong việc tham mưu cho Quốc hội về các vấn đề liên quan đến dân tộc thiểu số Việt Nam, chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước. Các Ủy ban của Quốc hội có chức năng thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hoạt động của các cơ quan này phải đảm bảo tính khách quan, minh bạch và phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

2.1. Vị Trí Vai Trò Của Hội Đồng Dân Tộc Trong Quốc Hội

Hội đồng Dân tộc có vị trí là một trong những cơ quan của Quốc hội, có trách nhiệm nghiên cứu và kiến nghị với Quốc hội về các vấn đề dân tộc. Hội đồng Dân tộc có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc thiểu số Việt Nam, giám sát việc thực hiện chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước.

2.2. Khái Niệm Và Đặc Điểm Hoạt Động Của Các Ủy Ban

Các Ủy ban của Quốc hội là các cơ quan chuyên môn của Quốc hội, có trách nhiệm thẩm tra các dự án luật, nghị quyết và giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước. Hoạt động của các Ủy ban mang tính chuyên sâu, đòi hỏi các thành viên phải có kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực được phân công.

2.3. Phương Thức Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc Và Ủy Ban

Phương thức hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban bao gồm phiên họp toàn thể, hoạt động của các cơ cấu bên trong và hoạt động phối hợp với các cơ quan, tổ chức hữu quan. Các phiên họp toàn thể là nơi các thành viên thảo luận và quyết định các vấn đề quan trọng. Hoạt động của các cơ cấu bên trong giúp Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban thực hiện các nhiệm vụ cụ thể.

III. Thực Trạng Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc Và Ủy Ban QH

Thực tiễn hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội hiện nay cho thấy, bên cạnh những kết quả quan trọng đạt được, vẫn còn những bất cập, tồn tại trong hoạt động lập pháp, giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Một nguyên nhân quan trọng là hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban vẫn còn có những khoảng cách nhất định, chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của thực tiễn. Nhiều vấn đề vướng mắc, hạn chế cả về khuôn khổ pháp lý cũng như từ thực tiễn hoạt động của các cơ quan này cũng đã bộc lộ, đòi hỏi phải được giải quyết một cách đồng bộ.

3.1. Hoạt Động Lập Pháp Của Hội Đồng Dân Tộc Và Ủy Ban

Trong lĩnh vực lập pháp, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban tham gia vào quá trình xây dựng và thẩm tra các dự án luật, nghị quyết. Tuy nhiên, chất lượng thẩm tra đôi khi còn hạn chế, chưa phát hiện và kiến nghị đầy đủ các vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn.

3.2. Hoạt Động Giám Sát Của Hội Đồng Dân Tộc Và Ủy Ban

Trong hoạt động giám sát, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban thực hiện giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết và các chính sách của Nhà nước. Tuy nhiên, hiệu quả giám sát còn chưa cao, chưa có nhiều kiến nghị được các cơ quan nhà nước tiếp thu và giải quyết.

3.3. Các Điều Kiện Đảm Bảo Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc

Các điều kiện đảm bảo hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban, như bộ máy giúp việc và nguồn lực tài chính, còn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Số lượng cán bộ giúp việc còn ít, trình độ chuyên môn chưa đồng đều. Nguồn lực tài chính dành cho hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban còn hạn hẹp.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Hoạt Động Hội Đồng Dân Tộc Quốc Hội

Để nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, cần có những giải pháp đồng bộ về thể chế, tổ chức và hoạt động. Cần tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Đồng thời, cần hoàn thiện pháp luật về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, đảm bảo tính nhất quán, đầy đủ và cụ thể. Bên cạnh đó, cần tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

4.1. Tăng Cường Lãnh Đạo Của Đảng Với Hội Đồng Dân Tộc

Cần tăng cường và tiếp tục đổi mới một bước phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Điều này đòi hỏi sự quan tâm sâu sắc hơn của Đảng đối với công tác dân tộc, cũng như việc xây dựng đội ngũ cán bộ làm công tác dân tộc có đủ phẩm chất và năng lực.

4.2. Hoàn Thiện Pháp Luật Về Hoạt Động Của Quốc Hội

Hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban phải được quy định bằng pháp luật một cách nhất quán, đầy đủ, cụ thể, phù hợp với yêu cầu thực tế. Cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hiện hành về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, đảm bảo tính đồng bộ, khả thi và hiệu quả.

4.3. Nâng Cao Vai Trò Của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội

Tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội trong chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Ủy ban Thường vụ Quốc hội cần chủ động hơn trong việc xây dựng chương trình công tác, phân công nhiệm vụ và đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Nghiên Cứu Về Hội Đồng Dân Tộc QH

Kết quả nghiên cứu về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có thể được ứng dụng trong quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban. Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể được sử dụng để đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc và cán bộ giúp việc cho Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban.

5.1. Ứng Dụng Trong Sửa Đổi Văn Bản Pháp Luật

Các kiến nghị, giải pháp được đề xuất trong nghiên cứu có thể được xem xét, tham khảo trong quá trình sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội.

5.2. Ứng Dụng Trong Đào Tạo Cán Bộ Dân Tộc

Kết quả nghiên cứu có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ làm công tác dân tộc, giúp cán bộ nâng cao kiến thức và kỹ năng trong lĩnh vực này.

VI. Kết Luận Về Nghiên Cứu Hội Đồng Dân Tộc Quốc Hội

Nghiên cứu về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội là một nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng hoạt động của các cơ quan này, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Về Quốc Hội

Nghiên cứu về hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo Về Hội Đồng Dân Tộc

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc hơn về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, đặc biệt là về cơ chế phối hợp giữa các cơ quan này và các cơ quan nhà nước khác, cũng như về vai trò của Hội đồng Dân tộc trong việc bảo đảm quyền của người dân tộc thiểu số.

08/06/2025
Luận văn thạc sĩ hoạt động của hội đồng dân tộc các ủy ban của quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trong nƣớc Trong thời gian qua, cùng với chủ trƣơng lớn đƣợc nêu trong các văn kiện của Đảng về đổi mới tổ chức và hoạt động của QH, nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH đã đƣợc các nhà khoa học, các vị ĐBQH, các chuyên gia quan tâm đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu. Có thể liệt kê một số công trình nghiên cứu tiêu biểu liên quan đến chủ đề Luận án theo các nhóm cơ bản sau đây: a) Luận án tiến sỹ Thứ nhất, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân”, (1995), NCS.

Luận án nghiên cứu về hoạt động lập pháp trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Hoạt động lập pháp đƣợc tác giả đề cập có phạm vi rộng, không chỉ bó hẹp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của QH, UBTVQH, HĐDT, các Ủy ban mà còn đề cập đến cả hoạt động của các chủ thể khác có liên quan trong quy trình lập pháp. Tác giả có những kiến nghị nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp, trong đó có đề cập một số giải pháp đảm bảo về mặt pháp luật, về cơ sở khoa học và cán bộ, về tổ chức và lãnh đạo nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp nói chung. Thứ hai, Luận án tiến sỹ luật học: “C¬ së lý luËn cña viÖc ®æi míi c¬ cÊu tæ chøc vµ ph-¬ng thøc ho¹t ®éng cña Quèc héi ở ViÖt Nam hiÖn nay”, (2003), NCS Lª Thanh Vân [118].

Trong Luận án, tác giả trình bày cơ sở lý luận về đổi mới cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH ở Việt Nam hiện nay, trong đó có một số khía cạnh về tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban. Tuy nhiên, do định hƣớng nghiên cứu của tác giả là tiếp cận mang tính tổng thể, toàn diện về cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH nói chung, nên các nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban không phải là vấn đề trọng tâm. Theo đó, tác giả có nêu 02 nhóm kiến nghị liên quan: (i) về cơ cấu tổ chức, cần thành lập mới và tách một số Ủy ban theo từng lĩnh vực hoạt động chuyên sâu, bảo đảm để các cơ quan 7 z này thực hiện tốt việc tham mƣu, giúp QH thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; (ii) về phƣơng thức hoạt động, trong lĩnh vực lập pháp, cần sớm phân công hợp lý cơ quan soạn thảo và cơ quan thẩm tra; công tác thẩm tra của HĐDT, các Ủy ban cần đƣợc tổ chức theo chiều sâu; trong lĩnh vực giám sát, cần sớm ban hành Luật giám sát của QH để quy định phạm vi, nội dung, phƣơng pháp tiến hành hoạt động giám sát, trong đó có phạm vi, nội dung, cơ chế giám sát. của HĐDT, các Ủy ban.

Thứ ba, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện quy trình lập pháp ở Việt Nam hiện nay”, (2004), NCS Hoàng Văn Tú [88]. Trong Luận án, tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quy trình lập pháp, đánh giá, phân tích thực trạng quy trình lập pháp, kiến nghị các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy trình lập pháp; trong đó, tác giả có đề cập một số nội dung liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của HĐDT, các Ủy ban trong quy trình lập pháp - thể hiện chủ yếu qua vai trò của HĐDT, các Ủy ban trong một giai đoạn của quy trình lập pháp là giai đoạn thẩm tra dự kiến chƣơng trình xây dựng luật, pháp lệnh, thẩm tra dự án luật, pháp lệnh. Trong giai đoạn từ năm 2004 đến nay, quy trình lập pháp có những thay đổi quan trọng, trong đó có việc ban hành và tổ chức thực thi Luật BHVBQPPL 2008, việc nghiên cứu vấn đề chất lƣợng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban nếu nhìn từ khía cạnh quy trình lập pháp cũng đứng trƣớc những yêu cầu, bối cảnh thực tế mới. Thứ tư, Luận án tiến sỹ luật học: “Quyền giám sát của Quốc hội đối với Tòa án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân”, (2004), NCS Phạm Văn Hùng [30].

Tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn về quyền giám sát của QH đối với Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, kiến nghị các giải pháp tập trung vào việc nâng cao hiệu quả giám sát của QH đối với hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân. Ở góc độ hoạt động của các Ủy ban, tác giả chủ yếu gắn với việc thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của UBPL trƣớc đây (hiện nay là nhiệm vụ, quyền hạn của UBTP) trong giám sát hoạt động của TAND và VKSND. Thứ năm, Luận án tiến sỹ luật học: “Nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam trong giai đoạn hiện nay”, (2007), NCS Trần Hồng Nguyên [56]. Tác giả đã đề cập đến một mức độ nhất định trong Luận án về chất lƣợng hoạt động thẩm tra, thực trạng chất lƣợng hoạt động thẩm tra và đƣa ra một số giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, trong đó có việc kiến nghị đổi mới hoạt động thẩm tra của HĐDT, các Uỷ ban.

Từ định hƣớng nghiên cứu của tác giả là về chất lƣợng hoạt động lập pháp của QH, vấn đề hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban chỉ đƣợc tiếp cận ở phạm vi nhất định; mặt khác, 8 z sau thời điểm thực hiện công trình nghiên cứu (2007), hoạt động lập pháp của QH nói chung đã có những bƣớc đổi mới lớn theo quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, nhiều vấn đề liên quan đến khuôn khổ pháp lý và thực tiễn và qua đó là hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban hiện nay đã có những bƣớc thay đổi rất sâu sắc. Thứ sáu, Luận án tiến sỹ luật học: “Hoàn thiện cơ chế pháp lý đảm bảo chức năng giám sát của QH nước CHXHCN Việt Nam”, (2007), NCS Trƣơng Thị Hồng Hà [26]. Trong Luận án, tác giả đã tập trung làm rõ cơ sở lý luận về cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH, đánh giá thực trạng vận hành của cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH và kiến nghị các phƣơng hƣớng, giải pháp hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo đảm chức năng giám sát của QH. Thứ bảy, Luận án tiến sỹ luật học: “Cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội Việt Nam”, (2009), NCS Trần Thị Tuyết Mai [46].

Một số nội dung về hoạt động của HĐDT, các Uỷ ban đã đƣợc tác giả đề cập trong Luận án, song tiếp cận ở khía cạnh nghiên cứu về hiệu lực và hiệu quả hoạt động giám sát của QH. Theo đó, một số nội dung về hoạt động của HĐDT trong lĩnh vực giám sát cũng đã đƣợc tác giả phân tích, song chủ yếu tiếp cận ở khía cạnh mang tính chất “trung gian” khi phân tích về hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH, tiêu chí đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của QH và phƣơng hƣớng, giải pháp. b) Đề tài nghiên cứu khoa học Thứ nhất, Đề tài cấp nhà nƣớc: “Xây dựng mô hình tổ chức, phương thức hoạt động của Quốc hội và Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân ở nước ta”, (2004), GS. Trần Ngọc Đƣờng làm Chủ nhiệm [19].

Trong công trình này, về phía QH, các tác giả tập trung làm rõ cơ cấu tổ chức và phƣơng thức hoạt động của QH, của Chính phủ trong Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở nƣớc ta. Do đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài là rất rộng, hoạt động của HĐDT, các Ủy ban không phải là trọng tâm nghiên cứu, nên các nội dung về hoạt động của hệ thống Ủy ban đƣợc các tác giả đề cập ở một số nét rất khái quát và mang tính gợi mở lớn trên các khía cạnh về cơ cấu tổ chức, thẩm quyền, vị trí vai trò.của các cơ quan này trong tiến trình đổi mới tổ chức và hoạt động của QH trong xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCN ở Việt Nam. Thứ hai, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội”, (2013), TS. Trần Thị Quốc 9 z Khánh là Chủ nhiệm [34].

Đây là công trình nghiên cứu về HĐDT, các Ủy ban trên cả hai phƣơng diện là tổ chức và hoạt động. Theo đó, về lý luận, các tác giả đã tập trung vào một số vấn đề nhƣ khái niệm, vai trò, tính chất của các Ủy ban QH các nƣớc trên thế giới; tính chất-tổ chức, cơ cấu của Ủy ban; bộ máy giúp việc của QH các nƣớc; một số kinh nghiệm từ QH các nƣớc mà Việt Nam có thể tham khảo; tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức, phƣơng thức hoạt động của HĐDT, các Ủy ban của QH ở Việt Nam và bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Về thực trạng tổ chức và hoạt động, công trình nghiên cứu đã khái quát quá trình phát triển và thực trạng tổ chức của HĐDT, các Ủy ban; thực trạng hoạt động của HĐDT, các Ủy ban; quá trình phát triển và thực trạng bộ máy giúp việc của các cơ quan này. Trên cơ sở đó, các tác giả đã đề xuất các yêu cầu, quan điểm và giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐDT, các Ủy ban.

Thứ ba, Đề tài cấp bộ: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng và hoàn thiện quy định của pháp luật về hoạt động báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của Quốc hội ở nước ta hiện nay”, (2014), do PGS.TS Đinh Xuân Thảo làm Chủ nhiệm [75]. Công trình này đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận của việc quy định thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình của HĐDT, các Ủy ban; đánh giá, phân tích về hệ thống các quy định pháp luật về thẩm quyền yêu cầu báo cáo, giải trình tại Hội đồng, Ủy ban; thực tiễn thực hiện hoạt động yêu cầu báo cáo, giải trình tại HĐDT, các Ủy ban của QH nƣớc ta trong những năm gần đây.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Về Hoạt Động Của Hội Đồng Dân Tộc Và Các Ủy Ban Của Quốc Hội Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về vai trò và chức năng của Hội đồng Dân tộc cũng như các ủy ban trong quá trình xây dựng và ban hành luật pháp tại Việt Nam. Tài liệu này không chỉ phân tích các hoạt động của các cơ quan này mà còn nêu bật những thách thức và cơ hội trong việc cải thiện quy trình lập pháp. Độc giả sẽ nhận được những thông tin quý giá về cách thức hoạt động của các cơ quan này, từ đó có thể hiểu rõ hơn về hệ thống chính trị và pháp luật của Việt Nam.

Để mở rộng kiến thức của bạn về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khoá luận tốt nghiệp hoạt động thẩm tra của hội đồng dân tộc và các uỷ ban của quốc hội trong xây dựng luật pháp lệnh, nơi cung cấp cái nhìn chi tiết về quy trình thẩm tra. Ngoài ra, tài liệu Luận án tiến sĩ luật học hoàn thiện quy trình thủ tục ban hành nghị quyết của quốc hội nước ta hiện nay sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình ban hành nghị quyết của Quốc hội. Cuối cùng, tài liệu Đề tài nghiên cứu về chế định của quốc hội trong hiến pháp 2013 sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về vai trò của Quốc hội trong bối cảnh hiến pháp hiện hành. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về hoạt động lập pháp tại Việt Nam.